Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012
Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012
Chúc Mừng Lễ Phục Sinh năm 2012 - Thánh Ca
Sun 4/8/2012
Lạy Chúa, Mừng Lễ Phục Sinh 2012 con xin cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa là Đức Chúa của con đã vượt thắng tử thần từ cõi chết sống lại để cho chúng con có niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh hằng đời đời được chiêm ngưỡng Thánh nhan Chúa trên Thiên đàng. Ngày còn nhỏ con nhìn lên Thánh giá Chúa con thấy Ngài đau khổ con hỏi Mẹ con sao Chúa phải chết đau thương, tại sao Chúa là Chúa sao Chúa không phán 1 câu thì mọi người được sạch tội và Chúa không phải gánh tội trần gian.....
Ôi Chúa xem đây... con phải đi rồi, dù làm việc gì con cũng được tâm sự với Ngài, được cầu nguyện với Ngài. Con yêu mến Ngài lắm Ngài biết rõ lòng con dù con rất yếu đuối, xin Chúa thương xót linh hồn con và mọi người.
Lạy Chúa, Mừng Lễ Phục Sinh 2012 con xin cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa là Đức Chúa của con đã vượt thắng tử thần từ cõi chết sống lại để cho chúng con có niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh hằng đời đời được chiêm ngưỡng Thánh nhan Chúa trên Thiên đàng. Ngày còn nhỏ con nhìn lên Thánh giá Chúa con thấy Ngài đau khổ con hỏi Mẹ con sao Chúa phải chết đau thương, tại sao Chúa là Chúa sao Chúa không phán 1 câu thì mọi người được sạch tội và Chúa không phải gánh tội trần gian.....
Ôi Chúa xem đây... con phải đi rồi, dù làm việc gì con cũng được tâm sự với Ngài, được cầu nguyện với Ngài. Con yêu mến Ngài lắm Ngài biết rõ lòng con dù con rất yếu đuối, xin Chúa thương xót linh hồn con và mọi người.
Chuỗi Hạt và Tuần Cửu Nhật Lòng Thương Xót Chúa
Chuỗi Hạt và Tuần Cửu Nhật Lòng Thương Xót Chúa
Tuần Cửu Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa bắt đầu vào thứ Sáu Tuần Thánh cho đến Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa (Chúa Nhật II Phục Sinh):
Ngày thứ 1: thứ Sáu Tuần Thánh
Ngày thứ 2: thứ Bảy Tuần Thánh
Ngày thứ 3: Chúa Nhật Phục Sinh
Ngày thứ 4: thứ Hai sau Phục Sinh
Ngày thứ 5: thứ Ba sau Phục Sinh
Ngày thứ 6: thứ Tư sau Phục Sinh,
Ngày thứ 7: thứ Năm sau Phục Sinh
Ngày thứ 8: thứ Sáu sau Phục Sinh
Ngày thứ 9: thứ Bảy sau Phuc Sinh
Chúa Nhật II Phục Sinh - Lễ Lòng Thương Xót Chúa.
Lần vào mỗi 3 giờ chiều, giờ tuôn đổ Lòng Thương Xót Chúa. Trong những lần mạc khải cho nữ tu Faustina, Chúa Giêsu yêu cầu chị cầu nguyện và suy gẫm về cuộc thương khó của Chúa khi nghe đồng hồ điểm 3 giờ chiều. Ðây là giờ phút đánh dấu Người trút hơi thở cuối cùng và chết trên cây thập giá.
![]() |
- Cách Lần Hạt Lòng Thương Xót Chúa:
Nếu đọc vào lúc 3 giờ sáng hay 3 giờ chiều là Giờ Lòng Thương Xót thì rất tốt, nhưng có thể đọc vào bất cứ lúc nào, đặc biệt là khi viếng Thánh Thể.
Bắt đầu bằng Kinh Lạy Cha, một Kinh Kính Mừng, Kinh Tin Kính và lần chuỗi dùng Chuỗi Mân Côi như sau:
Mỗi hạt lớn đọc:
Lạy Cha Hằng Hữu, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, Linh hồn và Thần Tính của Con rất yêu dấu Cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa Chúng con, để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới.
Lạy Cha Hằng Hữu, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, Linh hồn và Thần Tính của Con rất yêu dấu Cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa Chúng con, để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới.
Mười hạt nhỏ, mỗi hạt đọc:
Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô,
Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô,
- xin Cha thương xót chúng con và toàn thế giới.
Kết thúc 5 chục kinh bằng hai câu sau đây:
Lạy Đấng Chí Thánh, là Thiên Chúa Toàn Năng, Hằng Hữu,
Lạy Đấng Chí Thánh, là Thiên Chúa Toàn Năng, Hằng Hữu,
- xin thương xót chúng con và toàn thế giới. (đọc 3 lần).
Ôi, máu và nước tuôn ra từ trái tim Chúa Giêsu là nguồn mạch Lòng Thương Xót,
- chúng con trông cậy ở nơi Ngài (đọc 3 lần).
![]() |
Kinh Cầu Xin Lòng Thương Xót Chúa:
Ôi Thiên Chúa, Đấng đầy lòng trắc ẩn, Đấng duy nhất tốt lành, con chạy đến van xin lòng thương xót Chúa, mặc dầu sự khốn nạn của con rất to lớn và việc xúc phạm con lại quá nhiều, con vẫn tín thác vào tình thương Chúa – bởi vì Chúa là Đấng xót thương, từ xưa tới nay, con chưa từng nghe một người nào tín thác vào lòng thương xót Chúa mà bị thất vọng.
Ôi Thiên Chúa từ bi, chỉ mình Chúa mới phán xét con. Chúa không bao giờ từ chối khi con thống hối ăn năn chạy tới lòng thương xót Chúa, nơi mà chưa có một linh hồn nào bị từ chối, mặc dù họ là một linh hồn vô cùng tội lỗi, lời Chúa Giêsu, con Cha, đã bảo đảm với con rằng: "Thà rằng trời đất này có biến ra không, nhưng lòng thương xót của Ta luôn ấp ủ mọi linh hồn tín thác".
Lạy Chúa Giêsu là bạn tri kỷ của những trái tim lẻ loi cô độc, Chúa là thiên đàng. Là Đấng Cứu Độ, là niềm an bình trong những giây phút buồn phiền giữa biển hoang mang nghi ngại, Chúa Là ánh sáng chiếu soi bước đường con đi, Chúa là tất cả của một linh hồn cô độc, Chúa biết sự yếu mềm của chúng con, và giống như một danh y tốt lành, Chúa an ủi và chữa lành mọi đau đớn của chúng con. Amen
Kinh Cầu Nguyện Cho Các Linh Hồn Tội Lỗi:
Lạy Chúa Giêsu là chân lý hằng hữu, con khẩn cầu Chúa và van xin lòng thương xót Chúa cho các tội nhân khốn khổ, Ôi Trái Tim dịu hiền của Chúa Trời con, lòng thương xót Chúa vô bờ bến con van xin Chúa cho các linh hồn tội lỗi.
Ôi Trái Tim Chí Thánh, nguồn mạch Lòng thương Xót, đang tuôn ra những luồng ánh sáng tràn ngập các ân sủng khôn lường trên toàn thể nhân loại, con van xin Chúa cho các linh hồn tội lổi.
Ôi Chúa Giêsu, xin hãy nhìn đến cuộc khổ nạn đắng cay của Chúa, mà đừng để cho một linh hồn nào phải hư mất, bởi vì ơn cứu rỗi Máu Thánh Chúa đã đổ ra cho chúng con là cái giá quá đắt Chúa phải trả, Ôi Chúa Giêsu, khi nghĩ đến cái giá Chúa phải trả cho chúng con bằng Máu Thánh Chúa, con vui mừng vô hạn, vì chỉ cần một giọt máu của Chúa cũng đủ cho phần rỗi nhân loại. Mặc dù tội lổi là vực sâu thăm thẳm của những yếu hèn và vong ơn bội nghĩa, chúng không thể nào cân xứng được với giá Chúa đã phải trả cho chúng con. Bởi vậy xin hãy để cho mọi linh hồn tín thác vào cuộc tử nạn của Chúa và đặt hy vọng vào Lòng Thương Xót của Ngài. Bởi vì Lòng Thương Xót Chúa không hề từ chối một người nào. Trời đất có thể đổi thay, nhưng lòng thương xót Chúa sẽ không bao giờ cạn kiệt.
Chúa ơi! Hồn con bốc cháy niềm vui vô bờ bến khi con suy tưởng tới sự tốt lành lân ái của Chúa. Ôi! Chúa Giêsu, con mong muốn đem mọi linh hồn tội lỗi tới chân Chúa để họ tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa đến muôn đời. Amen.
Kinh Cầu Cho Giáo Hội Và Linh Mục:
Ôi Chúa Giêsu của con, con nài xin Chúa nhân danh toàn thể Giáo hội: Xin ban cho Giáo hội tình yêu và ánh sáng Thần Khí Chúa, và xin ban quyền năng Chúa trên lời nói của các linh mục để những tâm hồn chai đá nghe biết ăn năn sám hối và trở về với Chúa. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con những linh mục thánh thiện. Chúa là chính Đấng gìn giữ các linh mục được thánh thiện. Ôi Linh Mục Thượng Phẩm Cao cả, ước gì quyền năng của lòng thương xót Chúa đồng hành với các linh mục ở mọi nơi, gìn giữ các ngài khỏi mọi cạm bẫy và cám dỗ của ma quỷ luôn luôn bủa vây các linh hồn linh mục. Lạy Chúa, Ước gì quyền năng lòng thương xót Chúa làm tan vỡ và vô hiệu tất cả những gì gây hoen ố sự thánh thiêng của các linh mục, bởi vì Chúa có thể làm mọi sự.
Lạy Chúa, Đấng yêu dấu nhất của con, con nài xin Chúa cho sự vinh thắng của Giáo hội, cho những ơn lành trên Đức Thánh Cha và trên tất cả hàng Giáo sĩ, cho ơn hoán cải của các tội nhân không biết sám hối. Lạy Chúa Giêsu, con xin Chúa chúc lành đặc biệt và ban ánh sáng cho các linh mục mà con đến xưng tội trong suốt cuộc đời con. Amen.
Kinh Cầu Được Chết Lành:
Ôi Chúa Giêsu đầy lòng thương xót giang cánh tay trên thánh giá, xin nhớ đến giờ chết của con. Ôi Trái tim đầy lòng thương xót của Chúa Giêsu, mở ra bởi lưỡi đòng đâm thâu, xin che chở con trong giây phút cuối cuộc đời. Ôi Máu và Nước tuôn ra từ Trái tim Chúa Giêsu là nguồn mạnh lòng thương xót vô bờ xin thương xót con, xin thanh tẩy tội lỗi và những xúc phạm của con. Ôi Chúa Giêsu hấp hối, Đấng bảo đảm của lòng thương xót, xin làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vào giờ chết của con.
Ôi Chúa Giêsu của con, ước gì những ngày sau cùng ở chốn khách đời này của con được hoàn toàn sống theo thánh ý của Chúa. Con kết hợp những đau khổ, cay đắng, và đau đớn trong giờ sau hết của con cho cuộc Thương Khó rất thánh của Chúa. Con dâng đau khổ của con cầu cho toàn thế giới để xin lòng thương xót vô biên của Chúa cho các linh hồn, nhất là những linh hồn tội nhân. Con tin tưởng và dâng hết người con cho thánh ý của Chúa, chính là lòng thương xót. Lòng thương xót của Chúa là tất cả cho con vào trong giờ chết. Amen.
Tạ Ơn:
Ôi! Giêsu! Chúa Trời Hằng Hữu, con tạ ơn Chúa Vì muôn ân sủng Chúa ban cho chúng con khôn xiết kể. Xin cho từng nhịp đập của Trái Tim chúng con là một bài ca mới cảm tạ Chúa. Xin cho từng giọt máu trong thân thể chúng con chuyển động cho Chúa. Linh hồn con là một bài ca thờ lạy Lòng Thương Xót Chúa. Con yêu mến Chúa, chỉ một mình Chúa mà thôi. Amen
Xin Cho Giống Trái Tim Chúa:
Ôi! Chúa Giêsu, xin cho trái tim con nên giống Trái Tim Chúa, xin Chúa hãy biến đổi nó thành chính Trái Tim Chúa, ngõ hầu con cảm nhận được nhu cầu của tâm hồn anh chị em, cách riêng những ai sầu não và buồn khổ. Ước gì luồng ánh sáng từ bi thương xót cư ngụ trong trái tim con.
Xin Lòng Mến:
Lạy Chúa Giêsu êm ái dịu dàng xin cho lòng con bừng cháy ngọn lửa yêu mến Chúa. Xin biến hoá thân con thành chính Mình Ngài, xin Chúa thần linh hoá bản thân con, ngõ hầu mọi cử chỉ, hành vi của con đều làm đẹp lòng Chúa. Ước chi Ngài thực hiện điều ấy nơi con, nhờ quyền phép Thánh Thể con được rước mỗi ngày. Ôi! con nóng lòng ước ao biến hoá toàn thân thành mình Chúa.
Kinh Xin Ơn Biết Thương Xót:
Lạy Chúa, xin cho mắt con biết thương xót, để con không bao giờ nghi ngờ hay xét đoán tha nhân theo bề ngoài, nhưng biết nhận ra vẻ đẹp trong tâm hồn họ và đến giúp đỡ họ.
Xin cho tai con biết thương xót, để con biết lắng nghe những nhu cầu của tha nhân và không dững dưng trước những đau đớn và than van của họ.
Xin cho lưỡi con biết thương xót, để con không bao giờ nói tiêu cực về tha nhân, nhưng biết nói lời an ủi và tha thứ cho mọi người.
Xin cho tay con biết thương xót và đầy việc lành, để con chỉ làm điều tốt cho tha nhân và dám nhận những công việc khó khăn và vất vả hơn.
Xin cho chân con biết thương xót, để con mau mắn đến giúp đỡ tha nhân và vượt thắng cơn mệt mõi rã rời. Nơi con an nghỉ thật là trong việc phục vụ tha nhân.
Lạy Chúa, xin con tim con biết thương xót, để con cảm được mọi nỗi khổ niềm đau của tha nhân. Con sẽ không từ khước yêu thương bất cứ ai. Con sẽ chân thành ngay cả đối với kẻ sẽ lạm dụng lòng tốt của con. Và con sẽ khóa lòng con trong Trái Tim vô cùng thương xót của Chúa Giêsu. Con sẽ mang nỗi khổ của con trong thinh lặng. Nguyện xin Lòng Thương Xót Chúa ở cùng con luôn mãi. Amen.
Lạy Chúa! xin thương xót con là kẻ có tội.
Kinh Cầu Nguyện Trong Lúc Đau Khổ:
Ôi Bánh Hằng Sống, xin giúp con nơi chốn khách đời này, để con được sức mạnh trung thành bước theo những dấu chân của Đấng Cứu Thế. Lạy Chúa, con không xin Chúa cất con xuống khỏi thập giá, nhưng con xin Chúa ban cho con sức mạnh để con được vững vàng trên con đường ấy. Lạy Chúa Giêsu, con muốn được giang rộng trên cây Thánh giá như Chúa đã làm. Con muốn chịu mọi cực hình và đau đớn mà Chúa đã chịu. Con muốn uống cho cạn chén đắng.
Ôi Chúa Giêsu của con, xin ban cho con sức mạnh chịu đựng đau khổ để con không mang bộ mặt nhăn nhó khi con uống chén đắng. Xin giúp con làm việc hy sinh của con cho được đẹp lòng Chúa. Ước gì điều ấy không bị lem luốc bởi tình yêu ích kỷ của con... Xin tất cả những gì ở trong con, từ đau buồn đến sức mạnh của con là sự ca ngợi dâng lên Chúa. Amen.
* * * * *
* * * * *
TUẦN CỬU NHẬT KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
(Nữ tu Faustina)
Chúa Giêsu chỉ cho con viết xuống và thực hiện trước Lễ Kính Tình Thương tuần chính ngày này. Nó bắt đầu vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.
Cha mong ước là trong chín ngày này, con đem các linh hồn đến mạch nguồn của tình thương Cha, để họ có thể kín múc từ đó sức mạnh mà hồi sinh, cùng với những ơn cần thiết cho họ trước những khó khăn của cuộc đời, nhất là trong giờ lâm tử.
Mỗi ngày con mang về cho Trái Tim Cha một nhóm các linh hồn khác nhau, rồi con hãy dìm họ vào trong đại dương này của tình thương Cha, phần Cha sẽ đưa tất cả những linh hồn này về nhà Cha Cha. Con sẽ làm như thế ở cả đời này lẫn đời sau. Cha sẽ không từ chối một sự gì cho linh hồn mà con mang về mạch nguồn của tình thương Cha. Mỗi ngày, con hãy van xin Cha Cha các ơn lành cho những linh hồn này, dựa vào công lực của cuộc Khổ Nạn đắng cay của Cha.
Con đã đáp lại: "Chúa Giêsu ơi, con đâu có biết làm tuần chín ngày này, hay phải mang những linh hồn nào trước vào Trái Tim Rất Xót Thương của Chúa đây". Chúa Giêsu trả lời là Người sẽ nói cho con biết những linh hồn nào mỗi ngày cần phải mang vào trong Trái Tim Người.
Vào lúc 3 giờ chiều, hãy thiết tha van xin tình thương của Cha, đặc biệt là cho các tội nhân, con chỉ cần một chốc lát chìm ngập trong cuộc Khổ Nạn của Cha, nhất là trong cảnh bị bỏ rơi của Cha vào lúc thương khó. Đây là giờ của tình thương vĩ đại cho cả thế gian. Cha sẽ cho con nhập cuộc sầu đau đến chết được của Cha. Trong giờ này, linh hồn nào vì cuộc Khổ Nạn của Cha mà cầu xin cùng Cha, Cha sẽ không từ chối họ một điều gì... (số 1320)
ƠN TOÀN XÁ NGÀY KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định các tín hữu có thể được hưởng ơn toàn xá trong ngày Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa vào Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh. Quyết định trên đây được công bố trong sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao đăng trên báo Quan Sát Viên Rôma của Tòa Thánh.
Sắc lệnh khẳng định rằng ơn toàn xá được ban với những điều kiện thường lệ là: xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha cho những tín hữu nào trong ngày Chúa Nhật thứ hai sau lễ Phục Sinh tức là Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa tại bất kỳ nhà thờ nào có lòng quyết tâm từ bỏ mọi quyến luyến tội lỗi kể cả tội nhẹ và tham dự vào các việc đạo đức tôn vinh lòng từ bi Chúa hay ít là đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính cùng với sự kêu cầu Chúa Giêsu từ bi trước sự hiện diện của Mình Thánh Chúa được trưng bày công khai hoặc giữ trong nhà tạm.
* * * * *
* * * * *
Nguồn : http://www.cdmedongcong.net/KinhThuongDoc/ChuoiHatVaTuanCuuNhatLongThuongXotChua.htm
http://www.cdmedongcong.net/KinhThuongDoc/YChiCauNguyenTuanCuuNhatKinhLTXC.pdf
http://www.cdmedongcong.net/KinhThuongDoc/YChiCauNguyenTuanCuuNhatKinhLTXC.pdf
Cầu nguyện với Phúc Âm- Tuần Bát nhật Phục Sinh
Thứ Hai tuần Bát nhật Phục Sinh 9/4/2012 Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 28, 8 - 15) Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta". Ðang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: "Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải phiền hà đâu". Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay. Sứ điệp: Chúa Giêsu đã từ cõi chết sống lại, Ngài mời gọi mọi người cùng cảm nghiệm sự sống lại đó, trong cuộc sống của mỗi người hôm nay. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, sự sống lại của Chúa đã làm thay đổi tầm nhìn và suy nghĩ của mọi người. Những kẻ đã lên án chống đối Chúa tưởng mình đang vinh quang chiến thắng, bỗng sững sờ thất bại trước sự việc không thể lường trước. Còn những ai theo Chúa, đang thất vọng chán nản thì hân hoan phấn khởi. Trong số đó, con thấy có một số phụ nữ theo Chúa đến cùng, ngay cả trong những giờ phút đen tối nhất, giờ đây họ được diễm phúc cảm nghiệm sự sống lại của Chúa, được làm sứ giả đem Tin Mừng Phục Sinh đến cho các tông đồ. Lạy Chúa, cuộc sống trần gian của con không thể kéo dài mãi, sức khỏe đã yếu đi, tinh thần và sự hăng say làm việc giảm sút. Cuộc đời này qua đi thật mau. Dù con vẫn biết cuộc sống đời này như một chiếc cầu nối liền vào cuộc sống vĩnh cửu, nhưng con vẫn bi quan lo sợ mỗi lần con nghĩ tới sự chết. Lạy Chúa, các phụ nữ ra thăm mồ đã vui mừng. Chúa bảo họ đừng sợ. Phần con, con cảm thấy niềm tin nơi con quá yếu kém, chưa cảm nhận được sự phục sinh của Chúa. Xin Chúa củng cố và tăng thêm đức tin nơi con, để con ý thức những gì trong cuộc sống hiện tại là những viên gạch xây dựng cho căn nhà Nước Trời. Mỗi sáng thức dậy con đang bước vào một ngày mới với đầy lòng tín thác vào ân sủng của Chúa. Xin Chúa ban cho con niềm vui Phục Sinh để từng ngày sống của con trở nên một sứ điệp mang lại niềm vui và lòng tin cho mọi người, nhờ đó chúng con cùng nhau hy vọng sẽ sống lại trong ánh sáng phục sinh vinh quang của Chúa. Amen. Ghi nhớ : "Hãy đi nói với anh em đến Galilêa mà gặp Ta ở đó". ---------------------- Thứ Ba tuần Bát nhật Phục Sinh 10/4/2012 Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 20, 11- 18) Khi ấy, bà Maria đang còn đứng gần mồ Chúa mà than khóc. Nhìn vào trong mồ, bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng đang ngồi nơi đã đặt xác Chúa Giêsu, một vị ngồi phía đàng đầu, một vị ngồi phía đàng chân. Hai vị hỏi: "Tại sao bà khóc?" Bà trả lời: "Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi và tôi không biết người ta đã để Người ở đâu?" Vừa nói xong, bà quay mặt lại, thì thấy Chúa Giêsu đã đứng đó, nhưng bà chưa biết là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi: "Bà kia, sao mà khóc, bà tìm ai?" Tưởng là người giữ vườn, Maria thưa: "Thưa ông, nếu ông đã mang xác Người đi, thì xin cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, để tôi đến lấy xác Người". Chúa Giêsu gọi: "Maria". Quay mặt lại, bà thưa Người: "Rabboni!" (nghĩa là "Lạy Thầy!"). Chúa Giêsu bảo bà: "Ðừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta. Nhưng hãy đi báo tin cho các anh em Ta hay và bảo họ rằng: Ta về cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các con". Maria Mađalêna đi báo tin cho các môn đệ rằng: "Tôi đã trông thấy Chúa và Chúa đã phán với tôi những điều ấy". Sứ điệp: Dù trước kia đã biết Chúa Giêsu, nhưng bà Ma-đa-lê-na đã không nhận ra Chúa Phục Sinh bằng con mắt thường. Người đã bước vào cuộc sống khác, nên cần phải có đức tin mới có thể nhận ra Người. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Chúa vì Chúa thương con và đích thân đến gặp bà Ma-đa-lê-na. Cũng như bà Ma-đa-lê-na, con tưởng có thể nhìn Chúa bằng đôi mắt xác thịt, con tưởng có thể ôm chầm lấy Chúa và giữ Chúa lại trong vòng tay. Chính vì vậy, bao nhiêu lần Chúa đến với con mà con chẳng nhận ra Chúa, bao nhiêu lần con đi tìm Chúa mà chẳng gặp được Chúa. Có những lúc chúng con đi bên nhau mà vẫn chẳng nhận ra sự hiện diện của nhau. Người khác có đó mà cũng như chẳng có. Vì chúng con chẳng quan tâm đến nhau, không yêu thương nhau. Ngược lại có những lúc thân xác xa cách nhau, nhưng lòng chúng con rất gần nhau và tưởng chừng đang sống bên nhau. Đó là vì chúng con thương nhau. Lay Chúa, xin Chúa ban cho con đức tin và tình yêu mến để con nhận ra Chúa đang ở bên cạnh con. Chúa đã sống lại và vượt qua những giới hạn của thân xác, của không gian và thời gian, để đến gặp con trong mọi nơi, mọi lúc. Chúa gọi tên con, xin cho con được nhận ra tiếng gọi của tình yêu Chúa. Trên hành trình thời gian, Chúa vẫn bước đi bên con, nhưng nhiều lúc con cảm thấy vắng bóng Chúa, xin Chúa giúp con nhận ra Chúa bên cạnh con để con được sống trong bình an và niềm vui. Con xin hứa đến với Chúa trong những điểm hẹn mà Chúa đang đợi chờ con, đó là lắng nghe Lời Chúa và tham dự thánh lễ. Con cũng hứa không sống khép kín nữa, để con có thể nhận ra Chúa nơi các anh chị em hằng ngày đang sống bên con. Lạy Chúa, xin giúp con. Amen. Ghi nhớ : "Tôi đã trông thấy và Người đã phán với tôi những điều ấy". ---------------------
Nguồn :http://phatdiem.org |
Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012
- Tuần Thánh 2012-
Jesus, remember me when you come into your kingdom. - (Lk 23,42)
JESUS REMEMBER ME, WHEN YOU COME INTO YOUR KINGDOM
JESUS REMEMBER ME, WHEN YOU COME INTO YOUR KINGDOM
JESUS REMEMBER ME, WHEN YOU COME INTO YOUR KINGDOM
JESUS REMEMBER ME, WHEN YOU COME INTO YOUR KINGDOM
"I ASSURE, THIS DAY YOU WILL BE WITH ME,
THIS DAY YOU WILL BE, WITH ME IN PARADISE."
JESUS REMEMBER ME, WHEN YOU COME INTO YOUR KINGDOM
JESUS REMEMBER ME, WHEN YOU COME INTO YOUR KINGDOM
Lạy Chúa, con xin cảm tạ Chúa đã thương xót cho con luôn được tham dự Nghi thức Suy tôn Thánh giá 3pm Thứ 6 Tuần Thánh, từ ngày con ở đây nhà thờ con cử hành Thánh Lễ tưởng niệm cuộc thương khó của Ngài lúc 3pm còn nghi thức suy tôn Thánh giá cử hành lúc 7pm, đúng 3pm vị chủ tế là Đức Gíam Mục và các Cha nằm sấp trên Cung thánh , con thì tội lỗi con thấy mình không xứng đáng được hôn chân Chúa, bài hát này chúng con đã hát mỗi năm ... Lạy Chúa, lòng con xao xuyến ngay cả lúc này.. con yêu mến Chúa biết dường bao , xin Chúa xót thương linh hồn tội lỗi của con, xin Chúa cứu chuộc con , xin cho con được thuộc về Chúa mãi mãi- Ngài là Đức Chúa duy nhất. con tín thác vào Ngài.Amen
Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012
Các bài suy niệm Chủ nhật Lễ Lá
1/ Chúa Nhật Lễ Lá A - Chén Đắng
Suy niệm bài Thương Khó, chúng ta nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã yêu thương và thí mạng vì yêu chúng ta.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,10)
Tổ tiên của loài người ông Ađam và bà Evà đã bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa. Nguyên tổ đã nghe theo sự cám dỗ của ma quỉ và phạm tội. Thánh Phaolô viết rằng:Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính (Rm 5,19).Thiên Chúa đã chọn một hướng đi mới cho số phận của loài người. Sách Sáng Thế Ký đã truyền đạt ý định của Thiên Chúa: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (Stk 3,15). Để chuộc lại lỗi lầm của nguyên tổ, Thiên Chúa đã có chương trình cứu độ trải dài qua thời gian. Thiên Chúa đã chọn tổ phụ Abraham và từ đó sinh ra một dân tộc để đón nhận ơn cứu độ. Lịch sử trông chờ ơn cứu độ đã trải dài cả ngàn năm. Đôi khi chúng ta tự hỏi, Thiên Chúa quyền phép vô cùng, tại sao Thiên Chúa phải chờ đợi và tùy thuộc sự đáp trả tự do của con người?
Thiên Chúa đã chọn con đường tiệm tiến để mạc khải ý định của Ngài. Những dấu chỉ đã dần dần xuất hiện qua hành trình biến đổi và ý thức hệ. Thiên Chúa chuẩn bị tinh thần dân Chúa để đón nhận mầu nhiệm một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi riêng biệt. Mầu nhiệm lịch sử cứu độ được hé mở từ từ và sẽ được hoàn tất nơi chính Con Một của Thiên Chúa. Qua đó, chúng ta nhận biết tội nguyên tổ nghiêm trọng đến dường nào. Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến nỗi đã phải sai Con duy nhất xuống để chuộc tội cho nhân loại. Hình ảnh được vén mở cho dân Do-thái ngỗ nghịch và cứng lòng: Chúa liền nói với ông: "Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống”. Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống (Ds 21, 8-9).
Đấng Thánh của Thiên Chúa sẽ phải mang thân phận của một tôi tớ đau khổ. Tiên tri Isaia đã diễn tả hình ảnh của Đấng sẽ phải hy sinh đền tội cho nhân loại: Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề (Is 53,5). Ngài sẽ phải chịu thiệt thòi và khổ đau để chữa lành thương tích mà loài người đã gây nên. Chính Ngài sẽ đem lại sự bình an và hạnh phúc cho con người: Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành (Is 53,6).
Chúa Giêsu biết trước con đường thánh giá Ngài phải đi qua. Chúa đã từng bước mặc khải mầu nhiệm cứu độ cho các tông đồ. Chúa Giêsu phải đối diện với tất cả những sự dữ và tội lỗi do con người gây nên. Từ những nhục nhã nơi tâm hồn đến những khổ đau nơi thân xác. Người ta gán ghép cho Chúa những sự xấu xa nhất như người mất trí, kẻ ham ăn uống, cùng phường kẻ tội lỗi, kết hợp với tướng qủy để trừ qủy, nói lộng ngôn phạm thượng, lỗi phạm lề luật ngày Sabbat và là người phá rối trị an dân nước. Về phân xác, Chúa bị xua đuổi, lập mưu xô xuống vực, bị bắt, đánh đòn, đội mũi gai, lột trần, vác thập giá, xô đẩy, qụy ngã trên đường, bị đóng đinh trên thập giá và chết trần trụi. Không còn khổ đau nào hơn mà Chúa không chịu. Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa (Ga 19,17-18). Chỉ còn mảnh vải che thân cũng bị quân lính lột ra chia chác cho nhau. Còn sự xấu hổ nào hơn, khi Con Thiên Chúa chịu trần trụi nhục nhã treo trên thập giá. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì (Mc 15,24).
Muốn được vinh quang sự sống lại, chúng ta phải bước theo con đường thánh giá khổ đau. Khi xưa, hai anh em Gioan và Giâcôbê muốn được đi đường tắt đến vinh quang hưởng phước để được ngồi bên tả và bên hữu Chúa, nhưng Chúa đã nhắc khéo: Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10,38). Dù hai anh em chưa thông hiểu trọn vẹn ý của Chúa, các ông hoàn toàn phó thác vào sự quan phòng của Chúa. Các ông đáp: "Thưa được”. Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10,39).Hai vị tông đồ này giữ lời đã hứa. Hai vị cũng đã hy sinh cuộc đời theo Chúa đến cùng và đạt được triều thiên vinh quang sự sống.
Chén đắng của Chúa Giêsu trở thành chén đắng cho các tông đồ. Chén đắng được Chúa chúc phúc cho những ai muốn theo và làm môn đệ của Chúa. Chúa Giêsu không hứa một con đường thênh thang rộng rãi để tiến về nước trời. Chúa mời gọi chúng ta đi qua cổng hẹp và qua con đường khổ giá để vào Nước Hằng Sống. Chúa Giêsu nhắn nhủ một cách chân tình: Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy (Mt 24,9). Đạo Chúa thật lạ lùng, Chúa chúc phúc cho những người bị vu khống và bị bách hại. Tư tưởng này xem ra bị dị ứng cho nhiều người thời nay. Có nhiều người coi sự bách hại là một nguy cơ phá hủy Hội Thánh hơn là tìm cõi phúc trường sinh. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa (Mt 5,11).
Trong cuộc đời, ai cũng muốn sống bình an, thư thái và nhẹ nhàng. Chúng ta ngại ngùng đối diện và sống theo lời chúc phúc của Chúa. Sự vu khống, bách hại, thù ghét được nhìn dưới khía cạnh xã hội là bất công, cho nên không còn được con người chấp nhận. Chúng ta tự hỏi: Con đường thánh giá Chúa đã đi và Lời của Chúa hứa có còn thích hợp nữa không?Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,10).Chúng ta cầu nguyện, tranh thủ và phấn đấu để được sự hòa bình và công lý. Chúng ta đang cố gắng tìm hạnh phúc của nước trần gian. Điều này cũng thật chính đáng. Nhưng Chúa Giêsu nhấn mạnh: Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy (Mt 10, 38). Vác thập giá đi theo Chúa là chấp nhận mọi thử thách trên đường đời để làm nhân chứng cho sự thật. Ai cũng có thánh giá phải mang, phải vác. Có nhiều người vác thánh giá mà không theo Chúa. Họ tự mang vác gánh nặng cuộc đời và vật lộn với khổ đau bất hạnh.
Những ai biết cùng vác thánh giá với Chúa sẽ tìm được nguồn ủi an nâng đỡ và đường thánh giá sẽ dẫn đến sự sống. Chúa Giêsu không chỉ hứa hạnh phúc đời sau mà ngay cả đời này cũng được phần thưởng gấp bội nữa. Chúa Giêsu đã hứa: Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp (Mt 19,29). Thánh Phaolô trong thơ gơi cho giáo đoàn Galata đã nhắn nhủ:Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê (Gal 5,24). Chúa Giêsu xây dựng đền thờ trong tâm hồn mỗi người và Chúa dẫn dắt chúng ta đến sự sống muôn đời. Sự sống của Nước Chúa không thuộc về thế gian này.
Chúa Giêsu đòi hỏi rất cao và dứt khoát trong chọn lựa. Chúng ta không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của. Mạng sống là ân huệ Chúa trao ban, chúng ta có bổn phận phải gìn giữ, tập luyện, nuôi dưỡng và thăng hoa sự sống mình. Thánh Phaolô đã tuyên xưng: Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình (2 Cor 5,15). Chúng ta không có quyền tiêu diệt sự sống. Sự sống của chúng ta ở trong tay Chúa quan phòng. Khi chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta thuộc về Chúa và sống cho Chúa. Thánh Phaolô đã xác tín rằng: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi (Gal 2,20). Chúng ta mang danh là Kitô hữu, có nghĩa là chúng ta đã thuộc về Chúa Kitô trong mọi sự.
Ai cố gắng giữ mạng sống mình thì sẽ mất. Đúng thế, chúng ta không thể thay đổi được số mệnh của mình. Chúng ta cũng chẳng bảo đảm ngày mai ra sao và tương lai thế nào. Sống mỗi ngày là một ngày mới trong ước mơ và hy vọng. Niềm hy vọng chắc chắn nhất là đặt niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại. Chúa Giêsu phán: Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được (Mt 10,39).
Những tâm tình trong Tuần Thánh, chúng ta không xét đoán những người đã tham gia vào cuộc xử án và kết án Chúa. Tất cả những giới chức lãnh đạo như quan Philatô, Hêrôđê, các Sĩ quan, các Thượng tế, Luật sĩ, Biệt phái, các quân lính, dân chúng hô hào đánh đập và phỉ báng Chúa. Chúng ta cũng không nên xét hỏi Giuđa đã bán Chúa, Phêrô chối Chúa, các Tông đồ bỏ trốn và các người thân cận xa tránh. Chúa Giêsu đã hoàn tất chương trình cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã trao phó. Chúa đã mở con đường cứu độ dẫn tới sự sống qua cái chết của Ngài. Thánh Phaolô ghi nhận: Thật vậy, Người đã chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn, nhưng nay Người đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa (2 Cor 13,4).
Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ và ngợi khen tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Khi cầu nguyện là chúng ta thưa truyện với Chúa. Đọc và nghe lời Chúa là Chúa đang nói với chúng ta. Suy niệm bài Thương Khó, chúng ta nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã yêu thương và thí mạng vì yêu chúng ta. Chúa Giêsu đã phán: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Thiên Chúa đã chọn con đường tiệm tiến để mạc khải ý định của Ngài. Những dấu chỉ đã dần dần xuất hiện qua hành trình biến đổi và ý thức hệ. Thiên Chúa chuẩn bị tinh thần dân Chúa để đón nhận mầu nhiệm một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi riêng biệt. Mầu nhiệm lịch sử cứu độ được hé mở từ từ và sẽ được hoàn tất nơi chính Con Một của Thiên Chúa. Qua đó, chúng ta nhận biết tội nguyên tổ nghiêm trọng đến dường nào. Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến nỗi đã phải sai Con duy nhất xuống để chuộc tội cho nhân loại. Hình ảnh được vén mở cho dân Do-thái ngỗ nghịch và cứng lòng: Chúa liền nói với ông: "Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống”. Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống (Ds 21, 8-9).
Đấng Thánh của Thiên Chúa sẽ phải mang thân phận của một tôi tớ đau khổ. Tiên tri Isaia đã diễn tả hình ảnh của Đấng sẽ phải hy sinh đền tội cho nhân loại: Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề (Is 53,5). Ngài sẽ phải chịu thiệt thòi và khổ đau để chữa lành thương tích mà loài người đã gây nên. Chính Ngài sẽ đem lại sự bình an và hạnh phúc cho con người: Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành (Is 53,6).
Chúa Giêsu biết trước con đường thánh giá Ngài phải đi qua. Chúa đã từng bước mặc khải mầu nhiệm cứu độ cho các tông đồ. Chúa Giêsu phải đối diện với tất cả những sự dữ và tội lỗi do con người gây nên. Từ những nhục nhã nơi tâm hồn đến những khổ đau nơi thân xác. Người ta gán ghép cho Chúa những sự xấu xa nhất như người mất trí, kẻ ham ăn uống, cùng phường kẻ tội lỗi, kết hợp với tướng qủy để trừ qủy, nói lộng ngôn phạm thượng, lỗi phạm lề luật ngày Sabbat và là người phá rối trị an dân nước. Về phân xác, Chúa bị xua đuổi, lập mưu xô xuống vực, bị bắt, đánh đòn, đội mũi gai, lột trần, vác thập giá, xô đẩy, qụy ngã trên đường, bị đóng đinh trên thập giá và chết trần trụi. Không còn khổ đau nào hơn mà Chúa không chịu. Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa (Ga 19,17-18). Chỉ còn mảnh vải che thân cũng bị quân lính lột ra chia chác cho nhau. Còn sự xấu hổ nào hơn, khi Con Thiên Chúa chịu trần trụi nhục nhã treo trên thập giá. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì (Mc 15,24).
Muốn được vinh quang sự sống lại, chúng ta phải bước theo con đường thánh giá khổ đau. Khi xưa, hai anh em Gioan và Giâcôbê muốn được đi đường tắt đến vinh quang hưởng phước để được ngồi bên tả và bên hữu Chúa, nhưng Chúa đã nhắc khéo: Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10,38). Dù hai anh em chưa thông hiểu trọn vẹn ý của Chúa, các ông hoàn toàn phó thác vào sự quan phòng của Chúa. Các ông đáp: "Thưa được”. Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10,39).Hai vị tông đồ này giữ lời đã hứa. Hai vị cũng đã hy sinh cuộc đời theo Chúa đến cùng và đạt được triều thiên vinh quang sự sống.
Chén đắng của Chúa Giêsu trở thành chén đắng cho các tông đồ. Chén đắng được Chúa chúc phúc cho những ai muốn theo và làm môn đệ của Chúa. Chúa Giêsu không hứa một con đường thênh thang rộng rãi để tiến về nước trời. Chúa mời gọi chúng ta đi qua cổng hẹp và qua con đường khổ giá để vào Nước Hằng Sống. Chúa Giêsu nhắn nhủ một cách chân tình: Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy (Mt 24,9). Đạo Chúa thật lạ lùng, Chúa chúc phúc cho những người bị vu khống và bị bách hại. Tư tưởng này xem ra bị dị ứng cho nhiều người thời nay. Có nhiều người coi sự bách hại là một nguy cơ phá hủy Hội Thánh hơn là tìm cõi phúc trường sinh. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa (Mt 5,11).
Trong cuộc đời, ai cũng muốn sống bình an, thư thái và nhẹ nhàng. Chúng ta ngại ngùng đối diện và sống theo lời chúc phúc của Chúa. Sự vu khống, bách hại, thù ghét được nhìn dưới khía cạnh xã hội là bất công, cho nên không còn được con người chấp nhận. Chúng ta tự hỏi: Con đường thánh giá Chúa đã đi và Lời của Chúa hứa có còn thích hợp nữa không?Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,10).Chúng ta cầu nguyện, tranh thủ và phấn đấu để được sự hòa bình và công lý. Chúng ta đang cố gắng tìm hạnh phúc của nước trần gian. Điều này cũng thật chính đáng. Nhưng Chúa Giêsu nhấn mạnh: Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy (Mt 10, 38). Vác thập giá đi theo Chúa là chấp nhận mọi thử thách trên đường đời để làm nhân chứng cho sự thật. Ai cũng có thánh giá phải mang, phải vác. Có nhiều người vác thánh giá mà không theo Chúa. Họ tự mang vác gánh nặng cuộc đời và vật lộn với khổ đau bất hạnh.
Những ai biết cùng vác thánh giá với Chúa sẽ tìm được nguồn ủi an nâng đỡ và đường thánh giá sẽ dẫn đến sự sống. Chúa Giêsu không chỉ hứa hạnh phúc đời sau mà ngay cả đời này cũng được phần thưởng gấp bội nữa. Chúa Giêsu đã hứa: Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp (Mt 19,29). Thánh Phaolô trong thơ gơi cho giáo đoàn Galata đã nhắn nhủ:Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê (Gal 5,24). Chúa Giêsu xây dựng đền thờ trong tâm hồn mỗi người và Chúa dẫn dắt chúng ta đến sự sống muôn đời. Sự sống của Nước Chúa không thuộc về thế gian này.
Chúa Giêsu đòi hỏi rất cao và dứt khoát trong chọn lựa. Chúng ta không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của. Mạng sống là ân huệ Chúa trao ban, chúng ta có bổn phận phải gìn giữ, tập luyện, nuôi dưỡng và thăng hoa sự sống mình. Thánh Phaolô đã tuyên xưng: Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình (2 Cor 5,15). Chúng ta không có quyền tiêu diệt sự sống. Sự sống của chúng ta ở trong tay Chúa quan phòng. Khi chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta thuộc về Chúa và sống cho Chúa. Thánh Phaolô đã xác tín rằng: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi (Gal 2,20). Chúng ta mang danh là Kitô hữu, có nghĩa là chúng ta đã thuộc về Chúa Kitô trong mọi sự.
Ai cố gắng giữ mạng sống mình thì sẽ mất. Đúng thế, chúng ta không thể thay đổi được số mệnh của mình. Chúng ta cũng chẳng bảo đảm ngày mai ra sao và tương lai thế nào. Sống mỗi ngày là một ngày mới trong ước mơ và hy vọng. Niềm hy vọng chắc chắn nhất là đặt niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại. Chúa Giêsu phán: Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được (Mt 10,39).
Những tâm tình trong Tuần Thánh, chúng ta không xét đoán những người đã tham gia vào cuộc xử án và kết án Chúa. Tất cả những giới chức lãnh đạo như quan Philatô, Hêrôđê, các Sĩ quan, các Thượng tế, Luật sĩ, Biệt phái, các quân lính, dân chúng hô hào đánh đập và phỉ báng Chúa. Chúng ta cũng không nên xét hỏi Giuđa đã bán Chúa, Phêrô chối Chúa, các Tông đồ bỏ trốn và các người thân cận xa tránh. Chúa Giêsu đã hoàn tất chương trình cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã trao phó. Chúa đã mở con đường cứu độ dẫn tới sự sống qua cái chết của Ngài. Thánh Phaolô ghi nhận: Thật vậy, Người đã chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn, nhưng nay Người đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa (2 Cor 13,4).
Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ và ngợi khen tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Khi cầu nguyện là chúng ta thưa truyện với Chúa. Đọc và nghe lời Chúa là Chúa đang nói với chúng ta. Suy niệm bài Thương Khó, chúng ta nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã yêu thương và thí mạng vì yêu chúng ta. Chúa Giêsu đã phán: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
____________
Nguồn :

Với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, Giáo Hội mời gọi ta bước vào Tuần Thánh. Tuần Thương Khó Đức Giêsu Kitô Chúa Chúng ta đã bắt đầu.
Hôm nay Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, mang lại Ơn Cứu Độ cho con người. Nhìn bề ngoài, việc tiến vào thành Giêrusalem giữa đám đông dân chúng nô nức phất cao cành lá, giữa tiếng tung hô vang dội: “Hoan hô Con Vua Đavít”. Điều này có vẻ như là một cuộc vinh quang toàn thắng. Nhưng thực ra đây lại là việc mở màn cho cuộc Thương Khó. Đây cũng là một việc mỉa mai nhất vì hôm nay dân chúng giơ cao tay tung hô chúa, nhưng chỉ mấy ngày sau, cũng chính những cánh tay ấy lại được giơ cao để hò hét lên án Chúa. Và có lẽ đây cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó. Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của dân chúng, đã chất chứa một sức phản bội với những tiếng kêu gào và những bàn tay nắm chặt đưa lên cao: “Đả đảo! đả đảo! Đóng đinh nó vào Thập giá!”
Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm. Đi theo Chúa giữa lúc Ngài bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó còn khó hơn nhiều. Tin Mừng không thấy nói đến một người nào dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu, mà chỉ thấy người ta bênh vực cho Baraba, lên tiếng đòi phóng thích cho tên trộm cướp mà thôi.
Nếu người kitô được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có nhiều cảm nghiệm về những khó khăn vất vả trên đường theo Chúa. Con đường bước đi theo Chúa có lúc vui, lúc buồn. Chắc hẳn ta phải có mặt trong đám đông hoan hô Chúa khi Ngài vào thành Giêrusalem, và cũng không thể vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.
Hãy thử bình tâm để hỏi lại lòng mình: Nếu tôi sống tại Giêrusalem trong thời Chúa Giêsu , tôi sẽ là ai ? Sẽ đứng trong nhóm người nào? Tôi sẽ có thái độ nào trước bản án của Giêsu? Tôi sẽ là Simon vác đỡ thánh giá cho Chúa ? Sẽ là Phêrô chối Chúa ? Sẽ là Giuda bán Chúa ? Sẽ là Philatô dửng dưng rửa tay trước kẻ vô tội ? Sẽ là các vị thương tế và kinh sư âm mưu cáo gian để kết án Chúa? Sẽ là những người dân thấp cổ bé miệng, bị thúc dục và lôi kéo vào trong đám đông để hò hét “ Giết! Giết!! Giết nó đi!!! Hãy đóng đinh nó vào thập giá!”
Bạn thân mến! Trong tuần thánh nầy, mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy dành thời giờ để đọc lại một cách chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Hãy canh thức với Chúa trong vườn Cây Dầu. Hãy bước đi theo Ngài qua từng chặng đường, từ tòa án đạo đến tòa án đời. Hãy cùng đi với Ngài, cùng vác với Ngài cây thập tự của chính mình để cùng đi với Ngài ra pháp trường, và hãy ở lại thật lâu với Ngài trên Núi Sọ… Đừng theo Chúa như một người xa lạ, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì bạn và tôi. Bởi lẽ Ngài thương yêu ta, hy sinh mạng sống của Ngài vì ta…
Trong cuộc khổ nạn của Chúa, ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của cuộc đời: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết..v..v.. Nhưng trên hết, ta gặp được một tình yêu. Tình yêu vô cùng lớn lao của Chúa Giêsu dành cho Chúa Cha và nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau trở thành giá trị cứu độ. Vậy ta hãy cảm nếm thật sâu nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng đừng quên nhận ra tình yêu bao la tiềm ẩn trong từng phản ứng, từng lời nói của Ngài.
Ước gì ta có thể đón nhận những gai góc của cuộc đời với thái độ của Chúa Giêsu. Càng suy nghĩ về cuộc khổ nạn, ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, càng yêu thánh giá của mình hơn và càng kính trọng thánh giá của người khác nhiều hơn.
Hãy cảm nghiệm sâu xa tình yêu bao la của Giêsu dành cho đời ta. Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Ngài thấm nhuần và biến đổi đời ta. Bạn nhé !
***
Lạy Chúa Giêsu,
Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Cây Dầu, xin ban cho con sức mạnh để đối diện với những khó khăn vất vả trong cuộc sống.
Vì Chúa chịu sỉ nhục và bị nhạo báng, xin cho con luôn biết khiêm nhượng và vâng phục.
Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề , xin cho con biết noi gương bắt chước Chúa, biết can đảm chấp nhận vác lấy thập giá của đời mình.
Vì Chúa bị lột áo, xin cho con biết cởi bỏ những đam mê yếu hèn của kiếp người, biết mặc lấy tâm tình thống hối và yêu thương.
Vì Chúa bị đóng đinh, xin cho con đóng đinh tính xác thịt của con vào thánh giá Chúa.
Vì Chúa đã giang tay chết trên thập giá, xin cho con biết qúy trọng Ơn Cứu Độ vì Chúa đã chết để cho con được sống, để con được hưởng nhờ Ơn Tái Sinh mà Chúa đã hứa ban, Amen .
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Isaiah 50:4-7 - BĐ2: Phil 2:6-22 - PÂ: Mc.14,1-15.47)
Nguồn :
Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012
Nguồn gốc Tháng kính Thánh Giuse
Thánh Giuse thuộc dòng tộc Đavit. Người được chọn làm cha nuôi Chúa Giêsu cách đặc biệt.
Phúc Âm nói ít về ngài, chỉ cho biết Ngài là "Người công chính", nghĩa là người thánh. Các thánh đều công nhận ngài cao trọng hơn hết các thánh. Cũng như Mẹ Maria, ngài đã khấn giữ mình đồng trinh, và ngài đã sống thanh khiết trọn hảo cho đến chết. Theo thánh Giêrônimo, thánh Giuse kết hôn với Đức Maria là để gìn giữ danh giá cho Đức Trinh Nữ trước mặt thế gian, và Chúa muốn giữ kín việc truyền tin cho Đức Mẹ đối với thánh Giuse cho đến ngày thánh nhân buồn sầu định trốn đi, là để cho chúng ta thấy rõ lòng trinh sạch của các ngài, nên khi nghe sứ thần bảo :" Này ông Giuse, là con vua Davit, đừng ngại đón nhận Maria là vợ ông về nhà mình, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần". (Mt.1:20).
Thánh nhân đã sẵn sàng rước Đức Maria về, và từ đó, ngài càng kính nể, quí mến bạn mình hơn, vì ngài đã biết việc Thiên Chúa thực hiện nơi Maria và vì bà sẽ sinh Đấng Cứu Thế muôn dân mong đợi. Điều đó chứng tỏ thánh nhân là người công chính, thánh thiện, luôn luôn tuân hành ý Chúa, hoàn toàn tin tưởng phó thác nơi Chúa.
Ở Nazareth thánh nhân luôn sống ẩn dật, làm nghề thợ mộc, âm thầm lo lắng cho Đức Mẹ và Chúa Hài Nhi.
Ngày Chúa Giêsu bắt đầu cuộc sống công khai là ngày chấm dứt sứ mạng của Ngài. Ngài êm ái trút hơn thở cuối cùng trong tay Chúa và Mẹ.
Hàng năm Giáo hội mừng kính Ngài hai lễ riêng biệt : Ngày 19 tháng 3 kính thánh Giuse cha nuôi Chúa Giêsu, và là bạn thanh khiết Đức Mẹ và là quan thầy bầu cử cho Giáo hội (Đức Piô 11 chọn). Ngày 1 tháng 5 kinh thánh Giuse lao động là quan thầy giới lao công.
Theo sách Truyện Đức Mẹ dạy Chân phúc Agreda, Thiên Chúa đã ban cho Thánh Cả rất nhiều đặc ân để Thánh Cả cứu trợ những ai đến xin Thánh Cả cầu bầu. Đặc biệt là Thánh Cả hay ban xuống 7 ơn này:
1/ơn lướt thắng những chước cám dỗ trái nghịch đức khiết tịnh,
2/ơn được sám hối từ bỏ đường tội lỗi,
3/ơn tôn sùng Mẹ Đồng Trinh Rất Thánh Maria,
4/ơn được khỏe mạnh phần xác,
5/ơn được an ủi nâng đỡ lúc sầu khổ,
6/ ơn được chết lành,
7/ và ơn được có con nối dòng trong các gia đình công giáo.
Quỉ dữ rất sợ Tên Thánh Cả Giuse.
Chúng ta hãy chạy đến cùng thánh cả, vì ngài rất có thần thế trước mặt Chúa, chắc chắn ngài không từ chối lời ta cầu xin.
Truyện thánh
Thánh nữ Têrêsa Avila (1515-1582) là vị cải tổ Dòng Carmelô. Bà đã thành lập 18 đan viện Carmelô cải cách và giúp thánh Gioan Thánh Giá lập 13 Dòng nam Carmelô. Năm 1970 bà được phong Tiến Sĩ Hội Thánh cùng với thánh nữ Catarina Sienna. Đoạn văn sau đây trích từ cuốn Tự Truyện bà viết do đức vâng lời, liên hệ đến thời kỳ ba năm bà bị bệnh bất toại (22-24 tuổi). Môt tài liệu quí giá để chúng ta thâm tín hơn về việc sùng kính Thánh Giuse.
"Thấy mình còn trẻ mà bị bất toại, lại thấy tình trạng đáng buồn do các y sĩ trần gian đưa đẩy tôi vào, tôi quyết định chạy đến cùng các y sĩ trên trời để được khỏi bệnh....
Tôi nhận Thánh Giuse vinh hiển làm Đấng Bảo trợ tôi. Tôi cậy nhờ Người cách rất thiết tha. Ơn cứu giúp của Người nổi bật nhãn tiền. Đấng bảo vệ và Cha hiền của linh hồn tôi đã cứu tôi khỏi tật bệnh suy tàn về thể xác, cũng như người đã giải thoát tôi khỏi những hiểm nguy trầm trọng hơn về mặt khác, có thể làm hại hạnh phúc đời đời của tôi. Tôi nhớ rõ, chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì cùng Thánh Cả Giuse mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi khỏi mọi hiểm nguy phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bầu của vị thánh vinh phúc này.
Dường như Đấng Tối Cao ban ơn cho các thánh giúp chúng ta việc này việc nọ, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết thì Thánh Giuse vinh hiển có quyền năng rộng rãi giúp chúng ta trong mọi việc. Như thế là Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng, như xưa Chúa đã vâng phục Thánh Cả dưới thế, đã nhìn nhận Người với quyền làm Cha và làm Giám Quản, thì nay, ở trên trời, Chúa cũng sẵn lòng chiều theo ý của Người, mà nhận mọi lời Người cầu xin. Những người khác mà tôi khuyên dạy đến cùng Vị Bảo Trợ này, cũng nhận thấy điều ấy như tôi, do kinh nghiệm. Vậy nên số các linh hồn sùng kính Thánh Cả Giuse ngày càng gia tăng, và những hiệu quả tốt lành do sự chuyển cầu của Thánh Cả càng xác nhận lời tôi nói là sự thật....
Qua kinh nghiệm lâu dài như vậy, ngày nay được biết rõ uy thế rất lạ lùng của Thánh Giuse trước tòa Thiên Chúa, tôi muốn thuyết phục mọi người tôn kính, sùng mộ Thánh Giuse cách đặc biệt. Cho đến nay tôi vẫn thấy những ai có lòng sùng kính Người đích thực và chứng tỏ bằng việc làm, họ đều tiến tới trên đường nhân đức, vì Đấng Thánh Bảo Trợ trên trời hằng giúp đỡ rõ rệt về đường tiến đức cho những ai cậy nhờ Người".
(Trích Vie de Sainte Thérèse écrite par elle-mème, traduite sur le manuscript original par le Morcel Bouiz, s.j.15, éd. 1904).
Vợ chồng có 3 con trai, chết con trai 12 tuổi
Thánh Alphongsô kể lại rằng:
Có đôi vợ chồng kia rất đạo đức, sốt sắng và có lòng sùng kính thánh Giuse cách đặc biệt. Hai vợ chồng lại son sẻ nên hằng tin tưởng cầu xin với thánh cả Giuse. Rồi họ được nhận lời, sinh được 3 cậu con trai ! Điều đó làm cho lòng họ càng thêm đạo đức và mến mộ thánh cả, họ gia tăng làm việc lành, nhất là trong dịp tháng 3 kính Thánh cả.
Khi cậu cả lên 12 Tuổi, vào ngày lễ kính Thánh Giuse (19/3), cậu được rước lễ lần đầu.Nhưng rồi 1 giờ sau, cậu cả đã qua đời. Không lẽ đây lại là 1 ơn lành sao ? Dầu vậy, 2 vợ chồng kia vẫn không hề trách móc, oán thù, mà còn gia tăng lời cầu xin cho 2 đứa con còn lại đừng chịu chung 1 số phận như người anh cả. Thế nhưng, đến năm sau, cũng chính vào ngày lễ kính Thánh Giuse, cậu con trai thứ hai lại lăn ra chết bất thình lình như người anh năm trước. Khỏi cần nói cũng biết nỗi đau của hai vợ chồng kia lớn biết chừng nào. Tuy nhiên, họ vẫn không mất niềm tin.
Vào một đêm kia, trong lúc hai vợ chồng còn đang chong đèn than thở thì đượ Chúa cho thấy cảnh tượng 2 người thắt cổ chết, bên cạnh còn có người thứ ba, dáng vóc khỏe mạnh, mặc áo Giám mục. Rồi ngay lúc ấy, thánh cả Giuse lấy hình 1 ông già lão bước đến giảng giải:" Các con đau buồn làm chi. Hai đứa lớn nó sống thì sau này cũng sẽ sinh tật trộm cướp và sẽ bị án thắt cổ như cảnh tượng các con vừa thấy đó. Vì thương chúng và thương các con, nên Chúa đã đưa chúng đi khi chúng còn đang trong sạch. Còn đứa thứ 3 sau này sẽ cứu được nhiều linh hồn trong cương vị Giám mục". Nói xong, Thánh cả liền biến đi.
Hai vợ chồng được giải tỏa nỗi ưu phiền, họ không buồn đau nữa, và ngày càng tỏ rõ lòng kính mến Thánh cả Giuse, cũng như niềm tri ân đối với đức độ và sự khôn ngoan của Ngài. Về sau, đúng như lời ngài nói, đứa con thứ 3 khỏe mạnh, thông minh của họ đã theo ơn gọi giáo sĩ, làm Giám mục và giúp ích cho rất nhiều linh hồn.
Nguồn : http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=643&ict=9609
_____________________
Các Ngày Lễ Và Lòng Sùng Kính Thánh Giuse
I. Lễ kính Thánh Giuse
Từ xa xưa, Giáo hội hoàn vũ chỉ có lễ kính Thánh Giuse Bầu Cử (hay Kết bạn) vào ngày 19 tháng 3 mỗi năm. Nhưng nay theo lịch phụng vụ còn có lễ kính Thánh Giuse Lao Động. Vậy nên tìm hiểu về hai lễ kể trên:
1. Lễ Thánh Giuse Bầu Cử :
Ngược dòng lịch sử, từ thế kỷ đầu, các giáo hữu đầu tiên đã có lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Cho tới thế kỷ XII và XIII các thánh Bênađô, Tôma và Giêtruđê đã nêu cao các nhân đức của Thánh Giuse. Đến đời Đức Gioan XXIII, lễ Thánh Giuse Bạn Trinh Khiết Đức Maria được thành lập vào ngày 19-3-1334. Sang thế kỷ XV và XVI nhà thần học Gerson và Thánh Bernađinô Siênna, đặc biệt là Thánh Têrêxa Avila đã nhiệt thành cổ động lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Năm 1621 Đức Grêgôriô XV đã quyết định lễ Thánh Giuse 19 tháng 3 là Lễ buộc trong Giáo hội Công giáo, và cho tới năm 1714 Đức Clêmentê XI đã qui định các bài lễ và giờ kinh phụng vụ kính Thánh Cả Giuse.
Hồi nhỏ khi đi nhà thờ, nhìn ngắm chân dung Thánh Cả, tay trái Ngài ẵm Chúa Hài Đồng, tay phải cầm cành hoa huệ, tôi thấy ngộ vì không biết tại sao Thánh Cả già như vậy mà lại còn phải bế Chúa?
Có lần tôi thấy tượng Thánh Antôn cũng Bồng Chúa Giêsu như tượng Thánh Giuse, tôi về nhà hỏi lại cha mẹ mới được cắt nghĩa về bức tượng Thánh Giuse bằng ba câu thơ như sau:
Ông Thánh Giuse cầm cành hoa huệ,
Ông Thánh Giuse đứng trên cái bệ,
Ông Tháng Giuse bế đứa trẻ con.
À ra là thế.
Về sự tích cành hoa huệ
Theo dã sử xanh, Trinh Nữ Maria đã dâng mình trong đền thơ và khấn đời sống khiét tịnh. Nhưng từ trước muôn đời, Thiên Chúa đã chọn Bà làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa. Bà sẽ chịu thai bởi phép Thánh Linh chớ không theo tập tục của thế gian. Là những bậc vị vọng trong đền thờ, các thầy cả thượng phẩm đã tổ chức một lễ
tuyển chọn người “bạn đường” cho Maria. Các ngài đã ra lệnh cho tất cả các thanh niên trong thành, ai muốn cùng Maria kết nghĩa trăm năm, phải đến đền thờ khai tên tuổi và mang theo một cây gậy, trong số đó cũng có cả chàng thanh niên Giuse. Trước giờ tổ chức, các Thầy cả thu thập những gậy lại và để trên bàn thờ. Cầu nguyện vừa xong, tự nhiên một cây gậy khô cằn, trên đầu đã nở một cành hoa huệ tươi mát, xem ra mới biết đó là gậy của Giuse và kết quả đã được tuyên bố tức khắc. Giuse với nét mặt vui mừng hớn hở, còn các thanh niên khác với nét mặt tựa “chiếc bánh bao chiều”, giọng hằn học, sau đó tiếng gậy bẻ kêu “lốp đốp” và họ đã lần lượt ra về.
Nhưng nếu quí vị có dịp về thăm quê hương của Chúa tại thành thánh Nazareth, trong một dịp đẹp trời nào đó, đoàn xe chở khách du lịch sẽ đưa quí vị đến thăm viếng ngôi “Thánh đường Truyền Tin”, đây là một thánh đường nguy nga đồ sộ, là một trong những thánh đường Kitô giáo lớn nhất tại trung Đông. Trong khuôn viên thánh đường này quí vị sẽ được thăm viếng ngôi nhà thờ Thánh Giuse. Phần trên là nơi thiết lập một bàn thờ nhỏ để khách hành hương có chỗ tổ chức thánh lễ nhưng không rộng lắm. Chúng tôi quan sát kỹ lưỡng thấy một cửa sổ kính màu ở phía trên, hình ảnh một buổi lễ kết hôn của Giuse và Maria trước sự chứng giám của Thầy cả. Giuse và Maria cũng ăn mặc bình thường nhưng nhìn kỹ ra cả cô dâu, chú rể cùng đi “chân đất”. Phía trước mặt bàn thờ là một hàng rào sắt bao quanh, đứng ở trên có thể nhìn thấy cảnh sinh hoạt hằng ngày của Thánh Gia Thất xưa, với cảnh đơn nghèo, đời sống chật vật về cả mọi mặt. Cũng có đường vòng và cầu thang đưa du khách xuống mục kích tận mắt dưới phòng hầm này.
2. Lễ Thánh Giuse Lao Động
Lễ này mới được Đức Giáo Hoàng Piô XII thiết lập vào năm 1955, thánh lễ được mừng kính vào ngày 01 tháng 05 mỗi năm, và là bổn
mạng của giới lao động. Nhìn qua chân dung của tượng Thánh Giuse lao động, chúng ta nhận ra ngay một dáng điệu của bác thợ mộc, nước da sạm nắng, chân tay gân guốc, tay phải luôn cầm chiếc thước thợ.
Lễ Thánh Giuse lao động đã được mừng kính trong ngày lễ Lao động phần lớn thuộc các quốc gia Âu châu, nước Việt Nam chúng ta cũng cùng mừng lễ Lao động trong dịp này.
Trong Chương 4 của Tông Thư “Redemptoris Custus”. Chương này đề cao tính cách lao công qua nghề thợ mộc của Thánh Giuse đã làm như một kế sinh nhai hằng ngày, để nuôi sống Chúa Giêsu và Đức Maria trong gia đình Thánh Gia, đã biểu tượng cho lao động một giá trị mới.
Chương 4 đã viết: “…Vậy nếu gia đình Nazareth là gương sáng và mẫu mực cho các gia đình nhân loại trong việc cứu độ và thánh hoá, thì việc Chúa Giêsu lao công bên Thánh Giuse cũng là một mẫu gương. Ngày nay, Giáo Hội kính nhớ Thánh Giuse Lao Công vào ngày 01 tháng 5. Lao công con người nhất là lao động đã chiếm một chỗ trổi vượt trong Phúc âm. Cùng Con Thiên Chúa trong tính nhân loại, lao công đã được thi hành trong mầu nhiệm nhập thể và đã được phục hồi giá trị cách đặt biệt. Trong xưởng thợ nơi Ngài làm việc cùng Chúa Giêsu, Thánh Giuse đã đưa lao công con người đến gần mầu nhiệm Cứu Chuộc” (số 22).
II. Thánh Giuse Bầu Cử là Quan Thầy Giáo Hội Việt Nam
Theo giáo sử đã chép lại, từ khi giáo sĩ Ordonnez Cevallos bị trục xuất cho đến đời Vui Lê Thần Tôn (1619-1643), mới có vị thừa sai dòng Tên đầu tiên đến Bắc Hà, đó là giáo sĩ Baldinotti (người Ý) cùng với một tu sĩ người Nhật tên Giulo Piano. Ít lâu sau vì ở Bắc Hà dân tình rất tốt và thích hợp cho công vuộc truyền giáo, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) và P. Marquez thuộc dòng Tên được phái qua Bắc Hà. Hai giáo sĩ này đi tàu thuỷ gặp bão đánh dạt vào cửa Bạng, Thanh Hoá, tức năm 1627, đúng ngày 19 tháng 03 cũng là ngày kính Thánh Giuse; mấy vị thừa sai đã đặt chân lên đất Việt Nam, cùng quỳ xuống hôn đất, dâng việc giảng đạo tại Việt Nam cho Thánh Giuse.
Sau đó các Giám mục tiên khởi Đàng Ngoài và Đàng Trong đã duyệt y lời khấn đó và dâng các địa phận Việt Nam cho Thánh Giuse. Ngày 21-03-1678, Thánh Bộ Truyền Giáo Rôma, theo lời thỉnh nguyện của các Giám mục và Linh mục thừa sai tại Việt Nam, đã tuyên bối Thánh Giuse là Thánh Bổn Mạng của Giáo Hội Việt Nam.
III. Lòng sùng kính Thánh Giuse trong Giáo Hội
Qua các Thánh Giáo Phụ, các Đức Giáo Hoàng đã nhiều lần viện dẫn các chứng minh tại sao các Kitô hữu phải sùng kính Thánh Giuse, vì đời sống Thánh nhân không thể tách rời khỏi Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và Ngài là một trong ba vị của gia đình Thánh Gia, Ngài cũng là gia trưởng cả Thánh Gia Thất.
Trong thông điệp “Quanquam Pluries”, Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã viết rằng: “Mọi Kitô hữu, bất luận ở thứ bậc nào, cũng phải noi gương bắt chước đời sống và các nhân đức của Thánh Giuse…”
Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X, trong sắc lệnh phê chuẩn kinh cầu (Litanie) Thánh Giuse vào năm 1900, đã kêu gọi mọi tín hữu hãy hết lòng cậy trông vào Thánh Cả vì Ngài là Đấn cầu bầu thế lực nhất của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội.
Năm 1920, Đức Giáo Hoàng Benoit VX đã ban hành một tự sắc “Motu Proprio” kêu gọi mọi tín hữu hãy cầu xin với Thách Cả, vì Ngài là Đấng gìn giữ mọi gia đình khỏi mọi trào lưu vật chật và vô thần.
Ngày 10-03-1935, Đức Thánh Cha Piô XI đã việt: “Thánh Cả Giuse là Đấng có thể cầu bầu cho ta mọi ơn lành, bất luận là khó thực hiện đến đâu đi nữa, bởi Đức Mẹ và Chúa Giêsu không thể từ chối Ngài ơn gì”.
Đức Giáo Hoàng Piô XII khi thành lập lễ Thánh Giuse Lao Động, mừng kính vào ngày 1 tháng 5, đã long trọng tuyến bố đặt Thánh Cả Giuse là Quan Thầy mọi Kitô hữu trên thế giới và mọi tổ chức trong Giáo Hội.
Ngày 19-03-1961, Đức Gioan XXIII, trong thơ triệu tập Công đồng Vaticanô II đã long trọng tuyên bố: “Thánh Cả Giuse là Quan Thầy của Công đồng Vaticanô II”. Ngài đã truyền buộc phải nêu tên Thánh Cả vào các kinh nguyện Thánh Thể trong Thánh lễ…
Ngày 15-08-1989, Đức Giáo Hoàng Giaon Phaolô II đã ban hành Tông Thư “Redemptoris Custos” (Đấng Bảo Vệ Chúa Cứu Thế), nói về thân thế và sứ mạng Thánh Giuse trong đời sống Chúa Giêsu và Giáo Hội. Mục đích Tông Thư này để kỷ niệm Đệ bách chu niên Thông điệp “Quamquam Pluries” của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã ca tụng Thánh Ca Giuse, và để: “Mọi Kitô hữu hướng về Thánh Cả với lòng tôn sùng nồng nhiệt, tin tưởng khẩn cầu Ngài bảo vệ, và luôn luôn đặt trước mặt tấm gương khiêm tốn, các thế phục vụ hữu hiệu trong chương trình Cức Độ”.
Hiện nay trên thế giới đã có hơn 50 dòng tu nam, nữ với danh hiệu là Dòng Tu Thánh Giuse.
IV. Thánh Giuse với cộng đồng Dân Chúa Việt Nam
1. Đối với hàng Giáo sĩ và tu sĩ
Tại Việt Nam, những nhà nguyện của các Dòng Kín (Carmêlô): Hà Nội, Bùi Chu, Huế, Sàigòn đều nhận Thánh Giuse làm Bổn mạng, và giáo dân thường chạy đến các nơi ấy để cầu khẩn với Thánh Nhân. Vì Thánh Têrêxa mẹ, vĩ đại cải cách Dòng Kín, đã tại cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse cho người Kitô hữu Tây phương.
Riêng con đường Cường Để Sàigòn, chỗ gần Hải quân Công xưởng Bason, từ trước tới nay có hai cơ sở lớn nhất của Giáo phận Sàigòn là Dòng Kín và Đại chủng viện Sàigòn đều nhận Thánh Giuse làm Quan Thầy.
Tại Đại chủng viện Sàigòn trong các thập niên cận đại, đã cung cấp cho Giáo Hội Việt Nam nhiều vị chủ chăn thánh thiện, gương mẫu và đầy lòng quả cảm như các Đức Cha Trân Thanh Khâm (Phụ Tá TGP Sàigòn); Phạm Văn Thiên (GM Phú Cường); Nguyễn Văn Thiện (GM Vĩnh Long, hiện đang dưỡng bệnh tại Pháp); Trần Văn Thiện (GM Mỹ Tho); Nguyễn Văn Mầu và Nguyễn Văn Diệp (GM Chánh và Phó Vĩnh Long hiện nay); Huỳnh Văn Nghi (GM Phan Thiết) v.v… và nhiều Đức Cha được tuyển chọn sau 1975 tới nay.
Vào tháng Hai năm 1670, khi Đức Cha Lambert de la Motte soạn thảo Hiến pháp cho Dòng Nữ Tu Mến Thánh Giá, Ngài đã chọn Thánh Giuse làm Bổn Mạng cho Tu Hội này (khoản 14 trong Hiến pháp).
Vào năm 1926, đặc biệt một Tu Hội được thành lập tại Nha Trang (Việt Nam), dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse do Cha Setz, sau làm Giám Mục Kontum. Dòng này có khoảng 50 tu sĩ hành sự như các Thầy Giảng nhưng có lời khấn hẳn hoi, đã hoạt động rất đắc lực trong ba giáo phận Nha Trang, Qui Nhơn và Đà Nẵng.
2. Về Phía giáo dân
Ngoài việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Mẹ, việc tôn sùng Thánh Cả Giuse vẫn đứng hàng đầu. Tại các giáo xứ miền quê, mỗi khi chọn tên thánh lúc Rửa tội hay Thêm sức, người ta thường chọn tên Thánh Giuse.
Mỗi năm Giáo hội dành tháng Ba để kính Thánh Giuse. Ban sáng trước khi dân Thánh lễ Misa, bổn đạo hay đọc 5 chục kinh theo ngày, thứ Tư thường là 5 chục kinh mùa Mừng, đoạn đọc Kinh Cầu Ông Thánh Giuse và tham dự Thánh lễ. Tối đến, giáo dân lại đến nhà thờ làm việc kính Thánh Cả Giuse; ngắm 7 sự đau đớn cùng 7 sự vui mừng ông Thánh Giuse, kinh cầu Thánh Giuse, đoạn nghe đọc sách về tháng kính Thánh Giuse; bàn thờ kính Thánh Giuse là một ba bàn thờ chính. Nơi nào nhận Thánh Giuse làm Bổn Mạng thì bàn thờ chính giữa dành riêng để ảnh Thánh Nhân. Các tư gia đều có trưng ảnh Thánh Giuse trên bàn thờ, nếu không cũng có ảnh Thánh Gia Thất.
Lý do đạo đức và lòng tôn sùng Thánh Giuse nơi giáo dân Việt Nam rất dễ hiểu, vì người là Đấng Công chính, là Phu Quân của Đức Maria và là Bố Nuôi Đấng Cứu Thế. Ơn nữa, Thánh nhân là Quan Thầy Giáo Hội Việt Nam, là Đấng Bảo Trợ Giáo Hội hoàn vũ. Riêng tại Cửa Bạng, Thanh Hoá, hiện nay có hai cơ sở tôn giáo lớn đáng ghi nhớ đời đời:
Nhà Thờ xứ Ba Làng, một họ đạo đầu tiên mà Cha Đắc Lộ đã giảng đạo cho cha ông chúng ta trong ngày Lễ Thánh Giuse vào năm 1627, cùng những ngày tháng kế tiếp. Giáo dân ở đây có tinh thần đức Tin cao độ, không chấp nhận chung sống với lũ vô thần, nên đã nổi tiếng vùng lên đấu tranh với cộng sản để được di cư vào Nam Việt Nam .
Toà nhà nguy nga của Chủng viện Thánh Giuse. Chủng viện này nay mang tên là Đại Chủng viện Vinh Thanh, vì đào tại chung các chủng sinh cho hai địa phận Vinh và Thanh Hoá.
V. Hãy đến cùng Giuse
Chắc trong chúng ta không ai là không nhớ tích truyện ông Giuse đã bị anh em bán sang đất Ai Cập. Trong thời kỳ an cư tại đây, ông đã giải mộng cho nhà về những điềm báo mộng kinh hãi. Vì trọng tại tiên đoán của ông, nhà vua đã phong cho ông một chức vụ nắm vận mệnh kinh tế trong nước, Sau một thời gian đất nước Ai Cập bị đói kém mất mùa, dân chúng khổ sở cơ hàn, nhưng riêng hoàng cùng của Pharaon, đã tích trữ được biết bao nhiêu lúa gạo đầy kho, dù có kéo dài bao nhiêu năm tháng cũng không sợ gì đến sự đói khát.
Dân chúng thấy vậy liền kéo đến xin cùng vua Pharaon ban cho chút ít lương thực ddể qua cơn cơ hàn. Nhưng, vua Pharaon đã nói với họ: “Hãy đến cùng Giuse ‘ Ite ad Joseph” (Kn 41:55), họ đã vâng theo và làm như vậy, cuối cùng dân tình giảm bớt được sự đói khổ.
Là những người “Việt di tản”, chúng ta cũng nên bắt chước dân chúng Ai cập thuở xưa và theo như lời của vui Pharaon “Hãy đến cùng Giuse”, vì Giuse chúng ta đến cầu khẩn dây là Thánh Cả Giuse luôn phù thợ Giáo Hội hoàn vũ, là Bổn Mạnh Giáo Việt Nam, là gương sự nhịn nhục, Ngài mến sự khó khăn và là mẫu mực các kẻ làm ăn v.v.
Vậy muốn được an ủi và hạnh phú trên các miền đất mới khắp thế giới, muốn giải quyết những phức tạp của đời sống ly hương, muốn cân bằng những tập tục trong gia đình theo lề lối cổ truyền của cha ông chúng ta từ ngàn xưa tại quê hương Việt Nam, chúng ta hãy đến cùng Thánh Cả Giuse, chắc không có vị Thánh nào thấu hiểu tình cảnh di tản của chúng ta cho bằng Thánh Nhân, vì chính Ngài đã phải di tản để bảo vệ đời sống của Hài Nhi Giêsu và Mẹ chí thánh Người qua những vùng đồi núi hiểm nguy và tại miền đất tạm cư.
Nhưng, Thánh Nhân di tản và cũng đã có ngày “trở về quê cũ”. Chúng ta cũng xin Thánh Gia Thất cầu bầu, để một ngày kia con dân Việt di tản, sẽ cùng nhau trở lại quê hương để thăm lại những miền đất do ông cha đã gây dựng, thăm lại những con đường rộng thênh thang suốt từ Bắc chí Nam, tự ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, và cùng nhau hát lại những thánh ca trìu mến để biệt kính Thánh Gia nói chung và Thánh Cả Giuse nói riêng, với muôn đời cậy trông nơi lòng xót thương của Thánh Nhân.
Lm Nguyễn Quang Tuyến
Nguồn : ngonnennho.net
_____________________
Các Ngày Lễ Và Lòng Sùng Kính Thánh Giuse
I. Lễ kính Thánh Giuse
Từ xa xưa, Giáo hội hoàn vũ chỉ có lễ kính Thánh Giuse Bầu Cử (hay Kết bạn) vào ngày 19 tháng 3 mỗi năm. Nhưng nay theo lịch phụng vụ còn có lễ kính Thánh Giuse Lao Động. Vậy nên tìm hiểu về hai lễ kể trên:
1. Lễ Thánh Giuse Bầu Cử :
Ngược dòng lịch sử, từ thế kỷ đầu, các giáo hữu đầu tiên đã có lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Cho tới thế kỷ XII và XIII các thánh Bênađô, Tôma và Giêtruđê đã nêu cao các nhân đức của Thánh Giuse. Đến đời Đức Gioan XXIII, lễ Thánh Giuse Bạn Trinh Khiết Đức Maria được thành lập vào ngày 19-3-1334. Sang thế kỷ XV và XVI nhà thần học Gerson và Thánh Bernađinô Siênna, đặc biệt là Thánh Têrêxa Avila đã nhiệt thành cổ động lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Năm 1621 Đức Grêgôriô XV đã quyết định lễ Thánh Giuse 19 tháng 3 là Lễ buộc trong Giáo hội Công giáo, và cho tới năm 1714 Đức Clêmentê XI đã qui định các bài lễ và giờ kinh phụng vụ kính Thánh Cả Giuse.
Hồi nhỏ khi đi nhà thờ, nhìn ngắm chân dung Thánh Cả, tay trái Ngài ẵm Chúa Hài Đồng, tay phải cầm cành hoa huệ, tôi thấy ngộ vì không biết tại sao Thánh Cả già như vậy mà lại còn phải bế Chúa?
Có lần tôi thấy tượng Thánh Antôn cũng Bồng Chúa Giêsu như tượng Thánh Giuse, tôi về nhà hỏi lại cha mẹ mới được cắt nghĩa về bức tượng Thánh Giuse bằng ba câu thơ như sau:
Ông Thánh Giuse cầm cành hoa huệ,
Ông Thánh Giuse đứng trên cái bệ,
Ông Tháng Giuse bế đứa trẻ con.
À ra là thế.
Về sự tích cành hoa huệ
Theo dã sử xanh, Trinh Nữ Maria đã dâng mình trong đền thơ và khấn đời sống khiét tịnh. Nhưng từ trước muôn đời, Thiên Chúa đã chọn Bà làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa. Bà sẽ chịu thai bởi phép Thánh Linh chớ không theo tập tục của thế gian. Là những bậc vị vọng trong đền thờ, các thầy cả thượng phẩm đã tổ chức một lễ
tuyển chọn người “bạn đường” cho Maria. Các ngài đã ra lệnh cho tất cả các thanh niên trong thành, ai muốn cùng Maria kết nghĩa trăm năm, phải đến đền thờ khai tên tuổi và mang theo một cây gậy, trong số đó cũng có cả chàng thanh niên Giuse. Trước giờ tổ chức, các Thầy cả thu thập những gậy lại và để trên bàn thờ. Cầu nguyện vừa xong, tự nhiên một cây gậy khô cằn, trên đầu đã nở một cành hoa huệ tươi mát, xem ra mới biết đó là gậy của Giuse và kết quả đã được tuyên bố tức khắc. Giuse với nét mặt vui mừng hớn hở, còn các thanh niên khác với nét mặt tựa “chiếc bánh bao chiều”, giọng hằn học, sau đó tiếng gậy bẻ kêu “lốp đốp” và họ đã lần lượt ra về.
Nhưng nếu quí vị có dịp về thăm quê hương của Chúa tại thành thánh Nazareth, trong một dịp đẹp trời nào đó, đoàn xe chở khách du lịch sẽ đưa quí vị đến thăm viếng ngôi “Thánh đường Truyền Tin”, đây là một thánh đường nguy nga đồ sộ, là một trong những thánh đường Kitô giáo lớn nhất tại trung Đông. Trong khuôn viên thánh đường này quí vị sẽ được thăm viếng ngôi nhà thờ Thánh Giuse. Phần trên là nơi thiết lập một bàn thờ nhỏ để khách hành hương có chỗ tổ chức thánh lễ nhưng không rộng lắm. Chúng tôi quan sát kỹ lưỡng thấy một cửa sổ kính màu ở phía trên, hình ảnh một buổi lễ kết hôn của Giuse và Maria trước sự chứng giám của Thầy cả. Giuse và Maria cũng ăn mặc bình thường nhưng nhìn kỹ ra cả cô dâu, chú rể cùng đi “chân đất”. Phía trước mặt bàn thờ là một hàng rào sắt bao quanh, đứng ở trên có thể nhìn thấy cảnh sinh hoạt hằng ngày của Thánh Gia Thất xưa, với cảnh đơn nghèo, đời sống chật vật về cả mọi mặt. Cũng có đường vòng và cầu thang đưa du khách xuống mục kích tận mắt dưới phòng hầm này.
2. Lễ Thánh Giuse Lao Động
Lễ này mới được Đức Giáo Hoàng Piô XII thiết lập vào năm 1955, thánh lễ được mừng kính vào ngày 01 tháng 05 mỗi năm, và là bổn
mạng của giới lao động. Nhìn qua chân dung của tượng Thánh Giuse lao động, chúng ta nhận ra ngay một dáng điệu của bác thợ mộc, nước da sạm nắng, chân tay gân guốc, tay phải luôn cầm chiếc thước thợ.
Lễ Thánh Giuse lao động đã được mừng kính trong ngày lễ Lao động phần lớn thuộc các quốc gia Âu châu, nước Việt Nam chúng ta cũng cùng mừng lễ Lao động trong dịp này.
Trong Chương 4 của Tông Thư “Redemptoris Custus”. Chương này đề cao tính cách lao công qua nghề thợ mộc của Thánh Giuse đã làm như một kế sinh nhai hằng ngày, để nuôi sống Chúa Giêsu và Đức Maria trong gia đình Thánh Gia, đã biểu tượng cho lao động một giá trị mới.
Chương 4 đã viết: “…Vậy nếu gia đình Nazareth là gương sáng và mẫu mực cho các gia đình nhân loại trong việc cứu độ và thánh hoá, thì việc Chúa Giêsu lao công bên Thánh Giuse cũng là một mẫu gương. Ngày nay, Giáo Hội kính nhớ Thánh Giuse Lao Công vào ngày 01 tháng 5. Lao công con người nhất là lao động đã chiếm một chỗ trổi vượt trong Phúc âm. Cùng Con Thiên Chúa trong tính nhân loại, lao công đã được thi hành trong mầu nhiệm nhập thể và đã được phục hồi giá trị cách đặt biệt. Trong xưởng thợ nơi Ngài làm việc cùng Chúa Giêsu, Thánh Giuse đã đưa lao công con người đến gần mầu nhiệm Cứu Chuộc” (số 22).
II. Thánh Giuse Bầu Cử là Quan Thầy Giáo Hội Việt Nam
Theo giáo sử đã chép lại, từ khi giáo sĩ Ordonnez Cevallos bị trục xuất cho đến đời Vui Lê Thần Tôn (1619-1643), mới có vị thừa sai dòng Tên đầu tiên đến Bắc Hà, đó là giáo sĩ Baldinotti (người Ý) cùng với một tu sĩ người Nhật tên Giulo Piano. Ít lâu sau vì ở Bắc Hà dân tình rất tốt và thích hợp cho công vuộc truyền giáo, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) và P. Marquez thuộc dòng Tên được phái qua Bắc Hà. Hai giáo sĩ này đi tàu thuỷ gặp bão đánh dạt vào cửa Bạng, Thanh Hoá, tức năm 1627, đúng ngày 19 tháng 03 cũng là ngày kính Thánh Giuse; mấy vị thừa sai đã đặt chân lên đất Việt Nam, cùng quỳ xuống hôn đất, dâng việc giảng đạo tại Việt Nam cho Thánh Giuse.
Sau đó các Giám mục tiên khởi Đàng Ngoài và Đàng Trong đã duyệt y lời khấn đó và dâng các địa phận Việt Nam cho Thánh Giuse. Ngày 21-03-1678, Thánh Bộ Truyền Giáo Rôma, theo lời thỉnh nguyện của các Giám mục và Linh mục thừa sai tại Việt Nam, đã tuyên bối Thánh Giuse là Thánh Bổn Mạng của Giáo Hội Việt Nam.
III. Lòng sùng kính Thánh Giuse trong Giáo Hội
Qua các Thánh Giáo Phụ, các Đức Giáo Hoàng đã nhiều lần viện dẫn các chứng minh tại sao các Kitô hữu phải sùng kính Thánh Giuse, vì đời sống Thánh nhân không thể tách rời khỏi Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và Ngài là một trong ba vị của gia đình Thánh Gia, Ngài cũng là gia trưởng cả Thánh Gia Thất.
Trong thông điệp “Quanquam Pluries”, Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã viết rằng: “Mọi Kitô hữu, bất luận ở thứ bậc nào, cũng phải noi gương bắt chước đời sống và các nhân đức của Thánh Giuse…”
Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X, trong sắc lệnh phê chuẩn kinh cầu (Litanie) Thánh Giuse vào năm 1900, đã kêu gọi mọi tín hữu hãy hết lòng cậy trông vào Thánh Cả vì Ngài là Đấn cầu bầu thế lực nhất của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội.
Năm 1920, Đức Giáo Hoàng Benoit VX đã ban hành một tự sắc “Motu Proprio” kêu gọi mọi tín hữu hãy cầu xin với Thách Cả, vì Ngài là Đấng gìn giữ mọi gia đình khỏi mọi trào lưu vật chật và vô thần.
Ngày 10-03-1935, Đức Thánh Cha Piô XI đã việt: “Thánh Cả Giuse là Đấng có thể cầu bầu cho ta mọi ơn lành, bất luận là khó thực hiện đến đâu đi nữa, bởi Đức Mẹ và Chúa Giêsu không thể từ chối Ngài ơn gì”.
Đức Giáo Hoàng Piô XII khi thành lập lễ Thánh Giuse Lao Động, mừng kính vào ngày 1 tháng 5, đã long trọng tuyến bố đặt Thánh Cả Giuse là Quan Thầy mọi Kitô hữu trên thế giới và mọi tổ chức trong Giáo Hội.
Ngày 19-03-1961, Đức Gioan XXIII, trong thơ triệu tập Công đồng Vaticanô II đã long trọng tuyên bố: “Thánh Cả Giuse là Quan Thầy của Công đồng Vaticanô II”. Ngài đã truyền buộc phải nêu tên Thánh Cả vào các kinh nguyện Thánh Thể trong Thánh lễ…
Ngày 15-08-1989, Đức Giáo Hoàng Giaon Phaolô II đã ban hành Tông Thư “Redemptoris Custos” (Đấng Bảo Vệ Chúa Cứu Thế), nói về thân thế và sứ mạng Thánh Giuse trong đời sống Chúa Giêsu và Giáo Hội. Mục đích Tông Thư này để kỷ niệm Đệ bách chu niên Thông điệp “Quamquam Pluries” của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã ca tụng Thánh Ca Giuse, và để: “Mọi Kitô hữu hướng về Thánh Cả với lòng tôn sùng nồng nhiệt, tin tưởng khẩn cầu Ngài bảo vệ, và luôn luôn đặt trước mặt tấm gương khiêm tốn, các thế phục vụ hữu hiệu trong chương trình Cức Độ”.
Hiện nay trên thế giới đã có hơn 50 dòng tu nam, nữ với danh hiệu là Dòng Tu Thánh Giuse.
IV. Thánh Giuse với cộng đồng Dân Chúa Việt Nam
1. Đối với hàng Giáo sĩ và tu sĩ
Tại Việt Nam, những nhà nguyện của các Dòng Kín (Carmêlô): Hà Nội, Bùi Chu, Huế, Sàigòn đều nhận Thánh Giuse làm Bổn mạng, và giáo dân thường chạy đến các nơi ấy để cầu khẩn với Thánh Nhân. Vì Thánh Têrêxa mẹ, vĩ đại cải cách Dòng Kín, đã tại cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse cho người Kitô hữu Tây phương.
Riêng con đường Cường Để Sàigòn, chỗ gần Hải quân Công xưởng Bason, từ trước tới nay có hai cơ sở lớn nhất của Giáo phận Sàigòn là Dòng Kín và Đại chủng viện Sàigòn đều nhận Thánh Giuse làm Quan Thầy.
Tại Đại chủng viện Sàigòn trong các thập niên cận đại, đã cung cấp cho Giáo Hội Việt Nam nhiều vị chủ chăn thánh thiện, gương mẫu và đầy lòng quả cảm như các Đức Cha Trân Thanh Khâm (Phụ Tá TGP Sàigòn); Phạm Văn Thiên (GM Phú Cường); Nguyễn Văn Thiện (GM Vĩnh Long, hiện đang dưỡng bệnh tại Pháp); Trần Văn Thiện (GM Mỹ Tho); Nguyễn Văn Mầu và Nguyễn Văn Diệp (GM Chánh và Phó Vĩnh Long hiện nay); Huỳnh Văn Nghi (GM Phan Thiết) v.v… và nhiều Đức Cha được tuyển chọn sau 1975 tới nay.
Vào tháng Hai năm 1670, khi Đức Cha Lambert de la Motte soạn thảo Hiến pháp cho Dòng Nữ Tu Mến Thánh Giá, Ngài đã chọn Thánh Giuse làm Bổn Mạng cho Tu Hội này (khoản 14 trong Hiến pháp).
Vào năm 1926, đặc biệt một Tu Hội được thành lập tại Nha Trang (Việt Nam), dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse do Cha Setz, sau làm Giám Mục Kontum. Dòng này có khoảng 50 tu sĩ hành sự như các Thầy Giảng nhưng có lời khấn hẳn hoi, đã hoạt động rất đắc lực trong ba giáo phận Nha Trang, Qui Nhơn và Đà Nẵng.
2. Về Phía giáo dân
Ngoài việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Mẹ, việc tôn sùng Thánh Cả Giuse vẫn đứng hàng đầu. Tại các giáo xứ miền quê, mỗi khi chọn tên thánh lúc Rửa tội hay Thêm sức, người ta thường chọn tên Thánh Giuse.
Mỗi năm Giáo hội dành tháng Ba để kính Thánh Giuse. Ban sáng trước khi dân Thánh lễ Misa, bổn đạo hay đọc 5 chục kinh theo ngày, thứ Tư thường là 5 chục kinh mùa Mừng, đoạn đọc Kinh Cầu Ông Thánh Giuse và tham dự Thánh lễ. Tối đến, giáo dân lại đến nhà thờ làm việc kính Thánh Cả Giuse; ngắm 7 sự đau đớn cùng 7 sự vui mừng ông Thánh Giuse, kinh cầu Thánh Giuse, đoạn nghe đọc sách về tháng kính Thánh Giuse; bàn thờ kính Thánh Giuse là một ba bàn thờ chính. Nơi nào nhận Thánh Giuse làm Bổn Mạng thì bàn thờ chính giữa dành riêng để ảnh Thánh Nhân. Các tư gia đều có trưng ảnh Thánh Giuse trên bàn thờ, nếu không cũng có ảnh Thánh Gia Thất.
Lý do đạo đức và lòng tôn sùng Thánh Giuse nơi giáo dân Việt Nam rất dễ hiểu, vì người là Đấng Công chính, là Phu Quân của Đức Maria và là Bố Nuôi Đấng Cứu Thế. Ơn nữa, Thánh nhân là Quan Thầy Giáo Hội Việt Nam, là Đấng Bảo Trợ Giáo Hội hoàn vũ. Riêng tại Cửa Bạng, Thanh Hoá, hiện nay có hai cơ sở tôn giáo lớn đáng ghi nhớ đời đời:
Nhà Thờ xứ Ba Làng, một họ đạo đầu tiên mà Cha Đắc Lộ đã giảng đạo cho cha ông chúng ta trong ngày Lễ Thánh Giuse vào năm 1627, cùng những ngày tháng kế tiếp. Giáo dân ở đây có tinh thần đức Tin cao độ, không chấp nhận chung sống với lũ vô thần, nên đã nổi tiếng vùng lên đấu tranh với cộng sản để được di cư vào Nam Việt Nam .
Toà nhà nguy nga của Chủng viện Thánh Giuse. Chủng viện này nay mang tên là Đại Chủng viện Vinh Thanh, vì đào tại chung các chủng sinh cho hai địa phận Vinh và Thanh Hoá.
V. Hãy đến cùng Giuse
Chắc trong chúng ta không ai là không nhớ tích truyện ông Giuse đã bị anh em bán sang đất Ai Cập. Trong thời kỳ an cư tại đây, ông đã giải mộng cho nhà về những điềm báo mộng kinh hãi. Vì trọng tại tiên đoán của ông, nhà vua đã phong cho ông một chức vụ nắm vận mệnh kinh tế trong nước, Sau một thời gian đất nước Ai Cập bị đói kém mất mùa, dân chúng khổ sở cơ hàn, nhưng riêng hoàng cùng của Pharaon, đã tích trữ được biết bao nhiêu lúa gạo đầy kho, dù có kéo dài bao nhiêu năm tháng cũng không sợ gì đến sự đói khát.
Dân chúng thấy vậy liền kéo đến xin cùng vua Pharaon ban cho chút ít lương thực ddể qua cơn cơ hàn. Nhưng, vua Pharaon đã nói với họ: “Hãy đến cùng Giuse ‘ Ite ad Joseph” (Kn 41:55), họ đã vâng theo và làm như vậy, cuối cùng dân tình giảm bớt được sự đói khổ.
Là những người “Việt di tản”, chúng ta cũng nên bắt chước dân chúng Ai cập thuở xưa và theo như lời của vui Pharaon “Hãy đến cùng Giuse”, vì Giuse chúng ta đến cầu khẩn dây là Thánh Cả Giuse luôn phù thợ Giáo Hội hoàn vũ, là Bổn Mạnh Giáo Việt Nam, là gương sự nhịn nhục, Ngài mến sự khó khăn và là mẫu mực các kẻ làm ăn v.v.
Vậy muốn được an ủi và hạnh phú trên các miền đất mới khắp thế giới, muốn giải quyết những phức tạp của đời sống ly hương, muốn cân bằng những tập tục trong gia đình theo lề lối cổ truyền của cha ông chúng ta từ ngàn xưa tại quê hương Việt Nam, chúng ta hãy đến cùng Thánh Cả Giuse, chắc không có vị Thánh nào thấu hiểu tình cảnh di tản của chúng ta cho bằng Thánh Nhân, vì chính Ngài đã phải di tản để bảo vệ đời sống của Hài Nhi Giêsu và Mẹ chí thánh Người qua những vùng đồi núi hiểm nguy và tại miền đất tạm cư.
Nhưng, Thánh Nhân di tản và cũng đã có ngày “trở về quê cũ”. Chúng ta cũng xin Thánh Gia Thất cầu bầu, để một ngày kia con dân Việt di tản, sẽ cùng nhau trở lại quê hương để thăm lại những miền đất do ông cha đã gây dựng, thăm lại những con đường rộng thênh thang suốt từ Bắc chí Nam, tự ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, và cùng nhau hát lại những thánh ca trìu mến để biệt kính Thánh Gia nói chung và Thánh Cả Giuse nói riêng, với muôn đời cậy trông nơi lòng xót thương của Thánh Nhân.
Lm Nguyễn Quang Tuyến
Nguồn : ngonnennho.net
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

