Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Mừng Lễ kính Thánh Martino Porres Tu sĩ OP(1579-1639) Lễ kính ngày 3/11

THÁNH MARTINÔ PORRES(1579 – 1639)


Bạn thân của người nghèo khổ và của loài vật vô tri.


            Matinô Porres sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, nước Peru, Nam Mỹ châu.  Trong sổ Rửa tội tại Lima còn ghi “Marinô, con trai người cha ẩn danh”.  Thật ra cha của cậu là Gioan Porres, một người gốc Tây Ban Nha, sau làm thị thưởng tại Panama.  Ông không nhận con khi thấy nó là con lai da mầu.  Do đó, suốt nhiều năm, Martinô phải sống cảnh nghèo với người mẹ, không hôn thú, bà Anna Velasquez, một phụ nữ da đen.  Tuy nhiên, xã hội Nam Mỹ “lai căng” thời đó chẳng những không làm cho cậu đau khổ, mà còn giúp cậu đạt tới đức khiêm hạ hơn, đây là đặc tính nổi bật nhất đời của cậu.

            Mẹ con cậu Martinô tuy nghèo, nhưng lại rộng lòng bác ái  với những người cùng cảnh ngộ.  Một hôm bà mẹ gọi hai anh em Martinô và Gioanna, trao cho mấy đồng xu và sai chúng ra chợ mua rau.  Bà đã cặn kẽ bảo em giữ tiền cẩn thận đi thẳng đến chợ, không nên nhìn hai bên đường.  Vì bà nghĩ nếu con mình thấy kẻ nghèo khó thì sẽ thương mà tặng cho họ những đồng tiền mẹ con đang cần cho bữa tối nay.  Hai  anh em vâng dạ và mau mắn ra đi.  Ðang đi, mắt cô em đã bắt gặp người ăn xin mặc đồ rách rưới bên kia đường.  Ý nghĩ là sẽ không nói, nhưng tự nhiên cô bé bật miệng kêu “Kìa!”  Thế là Martinô nhìn theo em.

            Nghĩ đến lời mẹ căn dặn, hai anh em đã cố gắng đi tiếp.  Những cậu lại nghĩ chắc mẹ cũng không nỡ để người hành khất này chết đói.  Thế là hai anh em quay lại bên người hành khất, cậu lấy tiền ra và nói: “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, ông hãy cầm lấy số tiền này!”  Ông nhận quà, miệng rối rít cám ơn và xin Chúa chúc lành cho hai em.  Thế là hết tiền, hai anh em đâm lo, không biết phải nói với mẹ làm sao.  Vừa tới ngang nhà thờ chính tòa thành Lima, hai anh em liền vào, lên tận bao lơn cung thánh.  Quỳ ở đó, Martinô đã cất lời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu yêu dấu, xin ban của ăn cho chúng con.  Con mới cho người hành khất số tiền duy nhất của mẹ con rồi.  Chúng con không còn gì cho bữa tối nay.  Xin Chúa đừng để mẹ con buồn giận chúng con.  Cám ơn Chúa!”  Em Gioanna thưa: “Amen”.

            Martinô và Gioanna đứng dậy, bái Chúa rồi ra về, lòng đầy tin cậy Chúa biết rõ những gì gia đình các em cần.  Vừa thấy hai con, bà không thấy chúng cầm gì thì biết ngay chúng đã gặp ai và hành động thế nào rồi.  Bà cũng suy nghĩ có đánh,  có la mắng chúng lúc này cũng chẳng ích gì.  Vả lại, bà cũng từng bảo các con phải thương giúp người nghèo.  Bà quay vào và liên tưởng đến người chồng, với lời cầu nguyện:  “Lạy Chúa, xin cho ba tụi nhỏ sớm nghĩ lại, để chúng con có của nuôi thân, và có thể làm phúc cho cả những người nghèo nữa!”

            Khi Martinô được 8 tuổi, tức năm 1587, ông Gioan Porres, một sĩ quan Tây Ban Nha, đã hồi tâm và trở về chăm sóc mẹ con bà Anna Velasquez.  Ông đã đem hai con gửi trọ học ở nhà ông chú tên là Giacôbê tại Equador.  Ở đây các em được chú thương yêu và thuê người giám hộ tốt để dạy về chữ nghĩa và đức tính.  Martinô là cậu học sinh ngoan và thông minh.  Sau hai năm, cha cậu để Gioanna ở lại tiếp tục học, còn Martinô, ông bắt về ở bên mẹ tại Lima.  Ông căn dặn Martinô: “Con phải học nghề hớt tóc.  Cha hy vọng con sẽ cố gắng học, và cố gắng trở nên người Công giáo tốt”.  Martinô đã vâng lời cha và cố gắng học cũng như sống đạo tốt.

            Thời đó và trong hoàn cảnh sống tại Lima, thợ hớt tóc đồng thời cũng là “thầy lang”.  Họ phải học biết các kiến thức y học phổ thông, như biết bắt mạch chẩn bệnh,  biết băng bó vết thương, biết chữa các bệnh cảm cúm, sốt rét, biết nắn khớp xương và pha thuốc.  Martinô rất thích nghề này.  Cậu thưa với mẹ:  “Mẹ ơi, tập nghề hớt tóc là một nghề cao cả, mẹ ạ.  Học nghề này con có thể  giúp đỡ những người nghèo khó được nhiều, mẹ nhỉ!”  Mẹ cậu khích lệ con:  “Martinô, con là một đứa trẻ tốt.  Xin Chúa chúc lành và luôn gìn giữ con tốt mãi như vậy!”  Martinô thưa lại:  “Thưa me, đó là điều con hằng cầu nguyện mỗi sáng trong thánh lễ, và Chúa đã giúp con.  Ngài biến đổi con, giúp con học nghề này cho đạt kết quả tốt”.

            Sau hai năm học nghề, lúc 12 tuổi, Martinô vui vẻ và hăng say hành nghề.  Mỗi sáng, cậu tham dự Thánh lễ, có khi giúp lễ nhiều bao nhiêu có thể, tại nhà thờ Thánh Ladarô.  Sau đó, mang đồ nghề đi rảo quanh khắp xóm dân nghèo, tới đến với những người già yếu, tàn tật để săn sóc bệnh tật cho họ mà không lấy công.  Nhiều đêm cậu cũng phải thức để chăm sóc các con bệnh đang cần đến cậu.  Nhất là những người hấp hối cần cậu ở bên khích lệ họ tin tưởng vào Chúa, và giúp họ dâng lên Ngài những bệnh tật đau khổ.

            Năm lên 15, Martinô xin mẹ dẫn đến tu viện Mân Côi của các cha Dòng Ðaminh tại Lima để xin đi tu.  Tuy mẹ mong muốn con làm linh mục hay ít là làm thầy Dòng nhưng Martinô xin mẹ ưng thuận để cậu chỉ xin làm người giúp việc trong Dòng mà thôi.  Bà hỏi con: “Tại sao con không muốn làm linh mục hoặc thầy Dòng, mà lại chỉ muốn làm người giúp việc thôi?”  Cậu thưa: “Vì con không muốn trở nên người quan trọng.  Con chỉ muốn chu toàn những việc tầm thường vì yêu mến Chúa.  Xin mẹ vui lòng chấp nhận ước nguyện của con!”  Bà quyết định: “Ðược rồi, xin Chúa chúc lành cho con; còn trong tu viện, con muốn ở bậc nào tùy ý con chọn, mẹ chỉ xin con nhớ cầu nguyện cho mẹ”.  Trước đây cha Tu viện trưởng cũng đã nhiều lấn nghe biết về cậu Martinô, nên người đã ưng thuận.  Thế là Martinô được gia nhập tu viện, mang y phục người giúp việc trong Dòng Ðaminh.  Cậu cảm thấy mình đã được thuộc trọn về Chúa và Ðức Mẹ.

            Trong bậc giúp việc, Martinô đảm nhận nhiều công tác, như hớt tóc,  coi nhà giặt, phụ trách phòng y tế, Martinô rất vui trong việc phụng vụ tha nhân.  Bệnh nhân đầu tiên trong Dòng mà Martinô săn sóc, đó là Cha Phêrô.  Một chân cha bị thương và lại bị nhiễm trùng, cần phải giải phẫu và cưa chân để cứu sinh mạng.  Vì quá đau nên Cha Phêrô có phần bất nhẫn.  Tới bữa, Martinô dọn một đĩa rau tươi với những trái ôliu thật ngon mang tới Cha.  Ðến phòng, Maritnô gõ cửa.  Có tiếng từ trong đáp ra: “Ði chỗ khác, để  cho tôi yên”.  Bất kể tiếng la quát cứng cỏi của Cha, cậu cứ điềm tĩnnh đẩy cửa bước vào.  Với giọng săn sóc cậu hỏi: “Cha Phêrô ơi, Cha có thích dùng chút rau tươi tuyệt ngon này không?”  Cha Phêrô mở  to đôi mắt ngạc nhiên: “Sao lại không?  Tôi đang thèm rau tươi đây.  Sao cậu đoán được ý tôi?”  Cha Phêrô ngồi dậy và dùng một cách ngon lành, “Cảm ơn Martinô nhé!”  Cậu mỉm cười thưa: “Bây giờ để con thay băng cho Cha nhé?”  Cha cũng mỉm cười đồng ý.

            Thế là vừa thay băng Martinô vừa nói với Cha, “Thưa Cha, chắc Cha tin rằng Chúa sẽ  chữa lành vết thương của Cha chứ?”  “Martinô, con hãy cầu nguyện, để Chúa chữa lành vết thương của Cha!  Còn Cha, dù có chết Cha cũng không muốn giải phẫu!”

            Vừa ra khỏi phòng Cha Phêrô, Martinô lên ngay nhà nguyện, quỳ cầu nguyện trước Nhà Tạm: “Lạy Chúa chí ái, xin chữa lành chân Cha Phêrô.  Chúa đã từng chữa nhiều người khác, chẳng có gi mà Chúa không làm được.  Con tin Chúa”.  Tối hôm đó, khi Martinô trở lại thăm Cha Phêrô, cậu đã thấy Cha đang đi đi lại lại trong phòng!  Vừa thấy cậu, Cha kêu lên: “Martinô, Martinô! con đã chữa lành vết thương của Cha rồi!  Cha không biết phải cám ơn con thế nào.  Con rời khỏi đây chừng nửa giờ, thì chỗ bị sưng xẹp xuống và cơn đau cũng biến mất.  Con vừa làm một phép lạ đó!”  Martinô thưa lại, “Xin Cha đừng nói như vậy, con chỉ thay băng cho Cha thôi, chính Chúa mới làm cho vết thương Cha lành”.  “Ðúng rồi, nhưng nếu con không cầu nguyện, chắc chắn Cha cũng chưa khỏi!”

            Không những Martinô hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người, cậu  còn săn sóc và bảo vệ sự sống của các con vật nữa.  Các chú chim đến với cậu để kiếm ăn, các con mèo hoang cũng vậy.  Cậu luôn dự trữ sẵn đồ ăn cho chúng.  Một hôm, đàn chuột cắn đồ lễ tại Cung thánh, thầy phụ trách đã trình Cha Bề trên và xin để cậu Martinô diệt chúng, cậu bèn cầu nguyện, rồi đi lên phòng thánh.  Vừa bắt gặp một chú chuột, Martinô gọi nó, nó đã ngoan ngoãn chạy lại bên cậu, Martinô nói: “Bây giờ chú hãy nghe cho kỹ... chú và các chuột khác phải rời khỏi phòng thánh này ngay, vì các chú đã cắn áo lễ.  Chúa không hài lòng với các chú về việc này.  Vậy các chú bảo nhau thu dọn ra ở chuồng bò.  Tôi sẽ đem đồ ăn đến cho các chú.  Hiểu chưa?”

            Con chuột gật đầu rồi chạy mất.  Một lát sau, nó dẫn một đàn chuột theo, nhắm thẳng hướng tay Martinô chỉ ra chuồng bò.  Thầy phụ trách Cung thánh cũng hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến đàn chuột đang đi theo hướng tay Martinô chỉ.  Thầy đã lên trình Cha Bề trên về hiện tượng lạ lùng ấy.  Và từ đó, không còn thấy lũ chuột cắn đồ lễ nữa.

            Chín năm Martinô ở bậc giúp việc; đến năm 1603, khi anh đã 24 tuổi, các Bề trên nhận thấy ơn Chúa thương Martinô nhiều.  Anh đã khiêm nhượng xin ở bậc giúp việc chứ không dám xin ở bậc các thầy.  Các Bề trên và tất cả nhà Dòng đều nhận thấy anh sống đời cầu nguyện, khiêm nhượng thống hối và  bác ái gương mẫu nên đã quyết định cho anh lên bậc tu sĩ thực thụ.  Bề trên gọi Martinô và bảo: “Martinô, từ nay con không còn là người giúp việc nữa.  Con sẽ là một Thầy Dòng”.  Martinô thưa lại, “Thưa Cha, con bất xứng!”  “Việc đó Cha chịu trách nhiệm.  Con hãy mời mẹ con llên đây dự lễ Mặc áo Dòng!”
            Khi được tin, mẹ cậu đã hết sức vui mừng.                     



            Sau ngày Mặc áo Dòng, Martinô đã nhận thêm những trách vụ mới, như việc săn sóc những người nghèo khó bằng những lời: “Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành, gia tăng lương thực này, và xin Người thánh hóa tất cả những ai dùng của ăn này”.  Lời nguyện này luôn luôn thấy hiệu lực.  Bất kể người được ít kẻ được nhiều, không một ai đến xin ăn mà phải về tay không.  Ai nấy đều được no đủ và hài lòng với thầy Martinô.

            Một hôm, lúc thầy Martinô đem những ổ bánh cuối cùng trong kho nhà Dòng phát cho người nghèo, làm ông giúp việc nấu bếp lo lắng.  Ông chạy đến thưa Cha Bề trên, nhưng ngài điềm tĩnh đáp: “Ông đừng lo,  thầy Martinô không phát hết đâu, bánh sẽ còn đủ cho cả chúng ta nữa”.

            Quả đúng như lời Cha Bề trên, vì hằng ngày, không rõ số bánh thầy Martinô đã cho đi  bao nhiêu, nhưng các thầy vẫn luôn luôn có đủ bánh dùng.

            Thầy Martinô luôn làm các việc bình thường trở nên những việc khác thường bằng tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết sức, hết linh hồn” và phục vụ “yêu thương” anh em đồng bào theo giới răn bác ái của Chúa.  Thầy thể hiện hai giới răn này suốt từ khi có trí khôn.  Suốt hơn 45 năm sống đời khiêm hạ và bác ái trong Dòng Thánh Ðaminh tại Lima, Martinô tận tâm phục vụ Chúa nơi các bệnh nhân, những người nghèo khó và các trẻ em mồ côi.  Thầy sống rất đẹp lòng Chúa nên Ngài đã làm bao nhiêu điều lạ lùng qua lời cầu nguyện của Thầy: như các lần thị kiến, xuất thần, đánh  tội nhiệm nhặt, ở hai nơi một trật, thông hiểu thần học, làm phép lạ  chữa lành bệnh nhân, cảm  thông hiểu biết cũng như sai khiến được các con vật vô tri.

            Thầy sống thật xứng đáng là một tu sĩ gương mẫu trong đức vâng lời trọn hảo, đức khiêm nhượng thẳm sâu, và lòng thương yêu đối với các thụ tạo của Thiên Chúa.  Vị Thánh hai dòng máu Tây Ban Nha và Pêru da mầu này đã thể hiện tình yêu thương với mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da hay quốc tịch.  Thầy phục vụ Chúa Kitô trong mọi người, vô điều kiện và vô  giới hạn.  Trong những đêm dài cầu nguyện và thông hối, Martinô được đói khát tình yêu Thiên Chúa,  và trong những ngày dài Thầy dành để săn sóc các bệnh nhân, nuôi dưỡng người nghèo,  thi hành các công việc lao tác của nhà Dòng với một lòng khao khát cứu rỗi các linh hồn.  Ðời sống thánh thiện của Thầy khiến cho các Bề trên và cả tu viện coi Thầy như một vị linh hướng gương mẫu của họ.  Chính Thầy đã khiêm nhượng tự  xưng mình là “người nô lệ hèn mọn” hoặc là “con chó lai = Mulatto dog”.  Nhưng người dương thời gọi Martinô là “Cha bác ái” và “Cha của người nghèo”.

            Ðầu tháng 11 năm 1639, gần ngày sinh nhật thứ 60, Thầy ngã lâm trọng bệnh, suốt ba ngày chịu đau khổ cách can đảm.  Trong khi  đó, những người từng được Thầy săn sóc giúp đỡ, đã cầu nguyện và khóc thương Thầy bên ngoài tu viện.  Ðến ngày thứ tư, bệnh tình của Thầy có phần thuyên giảm.  Ðức Mẹ và Thánh Ðaminh đã hiện ra để yên ủi Thầy.  Martinô đã mời Bề trên và mọi anh em trong tu viện tới.  Họ đến để cầu nguyện cho Thầy trong cơn hấp hối.  Cha Bề trên hỏi: “Thầy Martinô, Thầy muốn chúng tôi hát bài ca nào để tiễn đưa Thầy?”  Thầy đáp lại, “Xin hát kinh Tin kính”.

            Thế là toàn thể anh em cao giọng cất lên bài ca tuyên xin Ðức Tin.  Tới câu “Thiên Chúa là Cha toàn năng, Ðấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình” thì Thầy nhắm mắt lìa trần, linh hồn bay về với Ðấng mà các tu sĩ đang tung hô ca ngợi.  Hôm đó là ngày 4 tháng 11 năm 1639.

            Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã  phong thánh cho Thầy Martinô đe Porres ngày 6 tháng 5 năm 1962, và gọi người là “Martinô Bác Ái”.  Lễ kính Thánh nhân trong toàn thể Giáo Hội được ấn định vào ngày 3 tháng 11 hằng năm.