Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ- PHẦN I I/ TÂN ƯỚC - CHƯƠNG 8

CHƯƠNG VIII: ƠN CỨU ÐỘ ÐƯỢC LAN RỘNG.


Trong những năm đầu tiên sau khi Ðức Kitô về trời, vấn đề quan trọng nhất đối với những kẻ tin theo Ngài là vấn đề thuộc về bản tính của vương quốc Thiên Chúa, Giáo Hội. Phải chăng nó chỉ là một sự thanh lọc của Dothái giáo, và chỉ giới hạn trong dân Israel mà thôi, hay nó là một công cuộc mới mẻ kêu mời tất cả nhân loại hãy bước vào ? Vấn đề này rất là nan giải và rất nghiêm túc. Những cách thức nó được giải quyết như thế nào đều được thuật lại trong Công Vụ các Tông Ðồ, một nguồn lịch sử không thể thiếu được của Giáo Hội sơ khai. Ðược ghi chép, sau khi những sự kiện xảy ra chẳng bao lâu, do Luca là người đã từng đích thân tham dự vào công cuộc truyền giáo thuở ban đầu như là môn đệ thân tín của Phaolô, nó là một quyển sách mô tả lướt qua một cách hấp dẫn sự Giáo Hội bành trướng như thế nào từ Yêrusalem đến Rôma, và nó được Thánh Thần hướng dẫn như thế nào để hiểu rõ cái tính cách phổ bác của mình. Nó bắt đầu tại Yêrusalem với các tông đồ là những người hy vọng khơi phục vương quyền cho Israel. "Lạy Chúa, phải chăng thời này là lúc Ngài khôi phục vương quốc cho Israel ?" (Cv 1, 6). Vào lúc kết thúc lịch sử của nó khoảng 30 năm sau đó, Giáo Hội đã được thiết lập vững chắc ở Rôma, trung tâm của thế giới, và Phaolô rao giảng công khai rằng "Chính dân ngoại mà ơn cứu thoát này của Thiên Chúa đã được sai đến. Và họ sẽ nghe" (Cv 28, 28).

GIÁO HỘI TẠI YÊRUSALEM.

Năm chương đầu của sách Công Vụ mô tả rõ ràng cuộc sống của Giáo Hội ngay sau khi Ðức Kitô thăng thiên. Những người tin theo Ðức Kitô lập thành một nhóm đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của các tông đồ. Họ tổ chức một cuộc sống cộng đồng trong đó lời giảng dạy của các tông đồ, sự cầu nguyện và sự bẻ bánh (phép Thánh Thể) là những yếu tố chính. Ðó cũng là một cuộc sống mà tình huynh đệ đã được lan rộng cho đến nổi tất cả đều đem tài sản của mình bỏ chung. Như thế những người nghèo khó sẽ được chăm sóc đầy đủ bởi những người trước đây có một nếp sống sung túc. Tất cả những điều này làm cho chúng ta nhớ đến một nếp sống tu trì, thực ra chỉ là mô phỏng, xuyên qua bao thế kỷ, nếp sống của những Kitô hữu đầu tiên.

"Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện . Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung : đất đai của cải, thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình. Ngày ngày họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới Ðền Thờ, bẻ bánh ở nhà, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân. Và số những kẻ được cứu rỗi cứ mỗi ngày được Chúa ban thêm mà nên một cùng nhau" (Cv 2, 42 - 47).

Nhóm nầy, với nếp sống cộng đồng của nó, có các vị lãnh đạo rõ rệt và sách Công Vụ cũng nói rõ về họ. Có Phêrô "Tảng Ðá" của Giáo Hội, những tông đồ khác là những tá viên. Nửa phần đầu của sách Công Vụ toàn là mô tả một cách khâm phục quyền tối thượng của Phêrô. Chính ông đã đề nghị bầu Matthia để thay thế Yuđa. Chính ông đã giảng giải công khai trong ngày Thánh Thần hiện xuống ; cũng chính Phêrô chữa người què và rao giảng tại Cửa Hẹp của Ðền Thờ. Hai bài giảng trước pháp đình của người Dothái trong chương bốn và năm cũng là của Phêrô, và cũng chính ông là người đóng vai chính trong biến cố thê thảm liên quan đến Anania và vợ Saphira. Không hoài nghi gì cả, Phêrô là người lãnh đạo Giáo Hội buổi sơ khai. Tiếp đến là các tông đồ khác tùy theo đại vị quan trọng. Sau đó đến các tá viên là những người được nói đến lần đầu ở chương sáu.

Ðồng thời với việc các người tin theo Ðức Kitô, có một cộng đoàn riêng biệt và có nếp sống độc đáo, người ta cũng thấy rõ ràng là họ vẫn còn tham gia vào việc thờ phụng và tin theo Dothái giáo. Trong sách Công Vụ chương 2 câu 46, thuật lại việc họ ngày ngày chuyên cần lui tới Ðền Thờ, chương 5 câu 42, việc họ thường hay giảng dạy ở đó. Nơi họ thích tụ tập hơn cả hình như là cửa Salômôn ngay phía ngoài Ðền Thờ. Và điều này cho thấy rõ hãy còn rắc rối. Ðây là một nhóm người Dothái vẫn còn lưu luyến Dothái giáo nhưng đồng thời cũng tin rằng Chúa Giêsu Phục Sinh quả thật là Ðấng Messia đã hứa, là Ðức Kitô. Chính điểm này phân biệt họ ngay với những đồng bào Dothái khác. Và họ là những người chân trong chân ngoài, một chân thì ở trong Dothái giáo chính thống, chân kia thì đã bước ra ngoài ; tuy vẫn còn giữ theo Dothái giáo, họ vẫn tin chắc rằng nó đã được làm cho trọn vẹn nơi Chúa Giêsu. Ðiều khó phân biệt lúc bấy giờ là không biết việc hoàn thiện Dothái giáo mà Chúa Giêsu đã thực hiện phải chăng chỉ là một sự thanh lọc và nâng cao cái tôn giáo của cha ông họ, hay nó là một công trình mới mẻ, có liên quan tới Dothái giáo, là nguồn gốc phát sinh nó, nhưng nó là một Giao Ước Mới, một tôn giáo phổ bác. Vấn đề là ở chổ đó. Nó được giải quyết như thế nào thì đã được thuật lại ở chương sáu bắt đầu với Stêphanô.


STÊPHANÔ VÀ SỰ PHÂN TÁN.

Stêphanô là một trong bảy tá viên được các tông đồ tuyển chọn để phục vụ những người góa bụa Dothái gốc Hylạp. Từ ngữ "Dothái gốc Hylạp" chỉ những người Dothái sinh ngoài xứ Phalệtinh, và tiếng mẹ đẻ của họ là tiếng Hylạp, mặc dù nhiều người cũng nói thông thạo tiếng Sêmít. Chính Stêphanô cũng là một người Dothái gốc Hylạp, và tư tưởng của ông, như đã được biểu lộ ở chương bảy, với những nét đại cương, chắc chắn là khác hẳn tư tưởng của một người Dothái ở Phalệtinh bị cô lập khỏi ảnh hưởng của tư tưởng quốc tế. Với sự xuất hiện của Stêphanô và những đồng bào Dothái gốc Hylạp của ông, Giáo Hội bắt đầu di chuyển ra khỏi giới hạn của Dothái giáo và ra khỏi trung tâm của nó ở Yêrusalem. Chẳng bao lâu, nhờ Stêphanô, những Kitô hữu Dothái gốc Hylạp sẽ truyền bá lòng tin nơi Chúa Giêsu ra tận bên ngoài xứ Phalệtinh, đến những người không phải là Dothái. Bởi đó, tầm quan trọng của Stêphanô thật là khôn lường. Bài giảng và sự chết của ông tạo nên một biến cố chủ yếu trong sách Công Vụ.

Chương sáu có thuật lại việc những người thù nghịch của Stêphanô dấy lên như thế nào :

"Họ cắt đặt chứng gian ra nói : Tên này không ngớt nói những lời phạm đến nơi thánh này và lề luật. Vì chúng tôi đã nghe hắn nói rằng : Giêsu Nazarét kia sẽ triệt hạ nơi này và thay đổi lề lối Môsê đã truyền cho chúng ta" (Cv 6, 13 - 14).

Thực ra cũng có chút ít sự thật trong lời cáo đó mặc dù có bóp méo và phóng đại. Chắc chắn Stêphanô đã tin rằng cả Ðền Thờ cũng như lề luật chỉ là những cái tạm thời mà thôi và sự quan trọng của chúng phải chấm dứt với sự sống, sự chết và sự Phục Sinh của Ðức Kitô, chắc ông cũng đã khẳng định rằng Môsê, mặc dù vĩ đại như thế, giờ đây cũng phải nhưởng bước nhường chỗ cho Môsê mới, là Chúa Giêsu đã Phục Sinh. Tất cả những điều này được thấy rõ ràng trong bài giảng của Stêphanô như đã tường thuật ở chương bảy. Ðó là một bài giảng dài, nhưng có thể thu gọn lại vào một vài điểm căn bản như sau. Khi nói về sự Thiên Chúa hiện ra cho Abraham ở Mêsôphôtamia, Stêphanô có ý dạy rằng sự hoạt động của Thiên Chúa không thể nào chỉ bị giới hạn trong Phalệtinh mà thôi, Thiên Chúa đã không cho Abraham một tấc đất nào nơi đó cả. Tôn giáo không thể bị ràng buộc vào một nước hay vào một dân nào. Ðiểm thứ hai nói về Ðền Thờ, nó cũng vậy, không phải là cần thiết. Trước ngày Ðền Thờ được thiết lập, Thiên Chúa cũng đã được phụng thờ rồi. Và người xây cất Ðền Thờ là Salômôn, một con người không đức độ bao nhiêu. Sau hết, Stêphanô nêu lên lịch sử đáng buồn của dân Dothái đã từ khước những người lãnh đạo Thiên Chúa sai đến. Yuse bị bạc đãi, Môsê cũng vậy, và các tiên tri khác cũng thế. Vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu cũng bị phản bội và bị chết bởi chính những kẻ mà Ngài được sai đến. Quan điểm của Stêphanô ở đây không phải là chỉ nói về những sứ giả của Thiên Chúa đã bị bách hại xuyên qua dòng lịch sử. Một chân lý quan trọng hơn nữa, đó là sự Thiên Chúa vẫn hoàn tất chương trình của Ngài, không màng chi những sự bách hại, và Ngài lợi dụng những cuộc bách hại đó để đạt đến mục đích của Ngài. Qua tất cả những sự này, Stêphanô ám chỉ một cách khéo léo về Chúa Giêsu, là vị tiên tri cuối cùng đã bị bách hại, và sự chết của Ngài chỉ là điềm báo trước sự Phục Sinh vinh hiển.

Bài giảng của Stêphanô được kết thúc bằng sự diễn tả điều ông thấy trên trời : "Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa" (Công Vụ 7, 56). Việc Stêphanô tuyên xưng niềm tin của mình như thế nơi Ðức Kitô Phục Sinh đã bảo chứng cho số phận của ông. Ông bị ném đá đến chết, và những người ném đá ông "Cởi áo đặt nơi chân một tráng niên gọi là Saulô" (Cv 7, 58).

Ðây là một tấm gương đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội sơ khai, chứng tỏ một sự muốn cố gắng tách rời tôn giáo của Ðức Kitô khỏi Dothái giáo. Stêphanô không có ý chế giễu Dothái giáo, nhưng ông chỉ nhằm nêu lên tính cách tạm thời của nó. Ông nói đã đến thời kỳ giá trị của Ðền Thờ cũng như của lề luật Môsê phải chấm dứt. Nó nhường chỗ cho tôn giáo Ðức Kitô thiết lập, một tôn giáo không hề bị giới hạn trong một quốc gia, một xứ hay một đền thờ nào cả. Lời nói mạnh dạn của ông chắc là đã giúp cho anh em ông thấy rõ hơn một chút rằng đức tin mới mẻ của họ là một cái gì khác biệt với đức tin mà họ có thuở mới sinh ra.

Cái chết của Stêphanô có ngay một hiệu quả xa hơn nữa. Cơn thịnh nộ của những người Dothái chính cống nhằm một cách dữ tợn thẳng vào những người Kitô hữu người Dothái gốc Hylạp như Stêphanô. Họ bị đuổi ra ngoài Yêrusalem và phân tán sang Yuđê và Samari. Một số lại tìm đường đi về phía bắc, sang Phênikia và Antiôkia, còn một số khác thì lại dùng thuyền vượt một quãng đường ngắn sang đảo Kyprô. Lúc đầu những Kitô hữu bị bách hại này chỉ rao giảng niềm tin của họ nơi Chúa Giêsu cho người Dothái mà thôi, nhưng chẳng bao lâu, một số người sinh sống ở Antiôkia cũng bắt đầu giảng cho những người không phải là Dothái nữa. Và trong số này nhiều người đã chấp nhận Ðức Kitô một cách sốt sắng và chân thành.

"Trong ngày ấy đã xảy ra một cơn bách hại dữ dội cho Hội Thánh ở Yêrusalem. Mọi người đều phải tản mát về các vùng quê ở xứ Yuđê và Samari, chỉ trừ có các tông đồ" (Cv 8, 1).

"Vậy những người bị phân tán vì cơn bách hại nhân vụ Stêphanô, đã đi đến tận Phênikia, Kyprô và Antiôkia, nhưng họ không giảng Lời cho ai khác ngoài người Dothái. Trong nhóm họ có vài người Kyprô và Kyrênê ; những người này khi đến Antiôkia thì đã giảng cho cả những người Hylạp nữa, loan báo cho họ Tin Mừng về Chúa Giêsu. Và có cánh tay Chúa ở cùng họ ; một số đông đã tin theo và trở lại cùng Chúa" (Cv11, 19 - 21).

Sự Stêphanô bám chặt bằng trí tuệ vào tôn giáo mới, là một việc quan trọng. Hậu quả thực tế của cơn bách hại tiếp theo cái chết của ông lại là một việc khác. Việc thứ nhất cho chúng ta một lý thuyết thần học về sự độc lập của Kitô giáo. Việc thứ hai làm cho nhóm Kitô hữu người Dothái gốc Hylạp, là một nhóm ơn hòa hơn, được lan rộng khắp nơi, và chính nhờ nhóm này mà công việc truyền giáo đã được thực hiện một phần lớn. Thánh Thần mà Stêphanô được đầy tràn (Cv 7, 55) đang hướng dẫn các Kitô hữu đầu tiên một cách cẩn thận. Vấn đề nan giải liên quan tới bản chất của Giáo Hội và địa vị của những người không phải Dothái đã được sớm giải quyết đó đều có Thánh Thần trợ giúp. Và Stêphanô đã thực hiện bước quan trọng đầu tiên.


PHÊRÔ VÀ CORNÊLIÔ.

Bước quan trọng kế tiếp trong việc vạch rõ tính cách phổ bác của Giáo Hội đã được mô tả trong các chương 10 và 11 của sách Công Vụ. Phêrô và Cornêliô là hai nhân vật chính trong những chương này. Sự lập đi lập lại những công việc mô tả thị kiến của họ nhằm nhấn mạnh sự quan trọng chủ yếu của biến cố này, bởi vì chính việc Phêrô đã rửa tội cho Cornêliô, không phải là người Dothái, đã mở đầu cho việc thu nhận những người dân ngoại vào Giáo Hội.

Nét đại cương của câu chuyện thật đơn giản : Cornêliô, một người không phải Dothái, mặc dù rất quan tâm đến Dothái giáo và hết lòng kính thờ Thiên Chúa, đã được một thị kiến bảo ông đi gặp Phêrô, lúc bấy giờ đang ở tại Yôphê. Phần Phêrô trong một thị kiến lừng danh, ông thấy một tấm khăn lớn từ trời buông xuống, trong đó có đủ thú vật "thú bốn chân, rắn rít dưới đất và chim chóc trên trời". Khi được lệnh hãy hạ sát mà ăn, ông phản đối rằng một số thú vật đó thì tục và nhơ chiếu theo lề luật Môsê, "những gì Thiên Chúa đã tẩy sạch thì ngươi đừng gọi là tục". Ðó là câu trả lời của Thiên Chúa. Dĩ nhiên đây là dấu để dạy Phêrô rằng bức rào ngăn cách giữa người Dothái (sạch) và dân ngoại (nhơ), theo lề luật Môsê, đã bị hủy bỏ.

Khi những người được Cornêliô sai đi đã đến nơi cư ngụ của Phêrô, ông này được lệnh phải cùng đi với họ. Ðó là tiếng phán bảo của Thánh Thần (10, 19), Ðấng đang hướng dẫn tất cả việc phải làm. Tới Kaisaria, nơi Cornêliô ở, Phêrô càng thêm mạnh dạn vì tất cả những sự việc đã xảy ra, nên ông không ngần ngại vào thăm gia đình Cornêliô, một người không phải Dothái (như thế cũng là không tuân theo luật Môsê) và, đang khi ông giảng về Chúa Giêsu cho những người có mặt ở đó, thì Thánh Thần xuống trên những người không phải Dothái. Ðây là một tỷ dụ cụ thể chứng tỏ sự mạc khải của Thiên Chúa. Bởi vì chính Thánh Thần cũng xuống trên những người không phải Dothái, và như thế là không hợp với lề luật. Không còn chút do dự, Phêrô đã thu nhận trực tiếp những người dân ngoại đó vào Giáo Hội. Ông đã rửa tội cho họ tất cả.

"Phêrô còn đang nói các điều ấy thì Thánh Thần đã xuống mọi kẻ đang nghe lời. Các tín hữu thuộc giới cắt bì, những người đã đến làm một với Phêrô đều kinh ngạc, vì ơn Thánh Thần đã đổ xuống trên cả dân ngoại : Bởi họ nghe những người ấy nói bằng các thứ tiếng và cao rao Thiên Chúa. Bấy giờ Phêrô lên tiếng : Nào ai có thể ngăn cấm những người này chịu thanh tẩy, những kẻ đã chịu lấy Thánh Thần một thể như chúng ta ? Và ông đã ra lệnh thanh tẩy họ nhân danh Ðức Giêsu Kitô" (Cv10, 44 - 48).

Biến cố này có thể mệnh danh là ngày Thánh Thần hiện xuống trên dân ngoại. Cũng cần lưu ý rằng chính Phêrô đã chủ tọa trong cả hai ngày Thánh Thần hiện xuống. Tuy nhiên, khi trở về Yêrusalem, ông thấy rằng một số Kitô hữu Dothái bảo thủ hơn, lấy làm băn khoăn vì những sự đã xảy ra. Những người này sẵn sàng đồng ý với việc dân ngoại được đón nhận Chúa Giêsu, nhưng miễn là họ phải được Dothái hóa trước đã. Sau khi nghe Phêrô mô tả những gì đã xảy ra, họ không còn phản đối nữa, bởi vì quyền quyết định tối hậu cho dân ngoại được thanh tẩy là do chính Thánh Thần hối thúc ông.

"Vậy nếu Thiên Chúa đã ban cho họ (Cornêliô và gia nhân của ông) cùng đồng một ơn huệ như Ngài đã ban cho chúng ta, là những kẻ đã tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà có thể ngăn cấm được Thiên Chúa ? Nghe thế, họ đã nguôi dịu và tôn vinh Thiên Chúa mà rằng : Vậy thì Thiên Chúa đã ban cho cả dân ngoại nữa ơn hối cải để được sống" (Cv 11, 17 - 18).

Biến cố này được Thánh Thần hướng dẫn từ đầu chí cuối, là hành động thứ hai (hành động thứ nhất là sự tử đạo của Stêphanô) trong việc Thiên Chúa bày tỏ chương trình cứu độ hoàn toàn của Ngài, chương trình ấy bao gồm cả dân ngoại cũng như Dothái. Bởi vì cả hai đều phải hợp nhất với nhau trong Ðức Kitô, và trong Ðức Kitô họ được hợp nhất với Thiên Chúa. Vẫn còn có những sự do dự, hoài nghi, chống đối về phía những người còn lưu luyến Dothái giáo hơn là Kitô giáo, nhưng Thánh Thần vẫn hướng dẫn một cách vững vàng Giáo Hội sơ sinh đến chỗ hiểu biết ngày càng sâu xa và rõ ràng hơn về tính cách Công giáo của nó.

PHAOLÔ NGƯỜI TARSÔ.

Phaolô, tên Dothái của ông là Saulô, cũng như Stêphanô, là một người Dothái gốc Hylạp. Ông sinh bên ngoài Phalệtinh, tại Tarsô, ngày nay là một phần của Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại. Ông thường được mệnh danh là "bà mụ" của Kitô giáo, là người có trách nhiệm chính trong việc cắt đứt dây ràng buộc giữa Kitô giáo và Dothái giáo. Như thế cũng có phần hơi quá đáng, bởi vì những người khác như Stêphanô và Phêrô cũng đã đóng góp rất nhiều vào việc thường xuyên làm cho những người Kitô giáo không phải Dothái được sáng tỏ. Tuy nhiên cũng nên chấp nhận cách vui vẻ rằng vai trò của Phaolô trong thảm kịch tôn giáo này là quan trọng nhất, việc ông trở lại với Ðức Kitô là một trong những hiện tượng nổi bật trong lịch sử tôn giáo của thế giới. Thánh Luca coi đó là một việc rất quan trọng cho đến nổi ông viết ba bài mô tả về nó trong quyển sách tương đối ngắn của ông. Dưới mắt của Luca, thì Phaolô chắc chắn là vị anh hùng đệ nhất trong số các Kitô hữu đầu tiên.

Những câu chuyện khác nhau tường thuật việc Phaolô trở lại đều nhấn mạnh rằng ông đã được tuyển chọn để đem Ðức Kitô đến cho thế giới dân ngoại. Hananya đã được lệnh rằng Phaolô là kẻ được Thiên Chúa chọn làm dụng cụ để mang danh Chúa Giêsu ra trước mặt các nước các dân, các vua chúa của họ (Cv 9, 15). Chính Phaolô cũng nói rằng lúc ông trở lại, thì ông được coi đi làm chứng tá cho Ðức Kitô trước mặt thế giới, làm kẻ đi mở mắt cho những dân ngoại, để đem họ từ chỗ tối tăm về chỗ sáng láng, từ chỗ bị thuộc quyền Satan sang chỗ được thuộc quyền Thiên Chúa (Cv 22, 15 ; 26, 17 - 18). Những năm đầu tiên sau việc ông trở lại một cách hoàn toàn bất ngờ, là những năm ông sống trong bóng tối. Trong thời gian ba năm đầu, ông sống ở sa mạc Arabi và tại Damascô. Tiếp đó ông ở hai tuần tại Yêrusalem. Việc ông đến đó thật là điều không may mắn. Các Kitô hữu không biết phải làm gì đối với ông. Mới độ ba năm trước đây, ông là một kẻ bách hại đức tin một cách cuồng bạo. Khó mà tin rằng một người như thế, trong một thời gian, có thể trở thành một Kitô hữu chân thành. Nhờ sự bầu cử của Barnaba, một Kitô hữu khả kính người Dothái gốc Hylạp, nên Phaolô mới được ra mắt các tông đồ. Cuộc viếng thăm này rất ngắn. Những Kitô hữu thì hoài nghi đối với Saulô, còn những người bạn Dothái của ông trước kia thì tức giận vì cho đó là một sự phản bội nhục nhã. Ông bắt buộc phải rời khỏi Yêrusalem và Phalệtinh để quay về Tarsô.

Sự đóng góp tích cự của Phaolô cho Kitô giáo bắt đầu ít năm sau đó, có lẽ bốn hay năm năm. Lúc đó, Barnaba được gởi đến Antiôkia để điều khiển công việc đang tiến hành ở đó, truyền giáo cho cả dân ngoại cũng như Dothái.

"Ðến nơi và thấy ơn Thiên Chúa, ông mừng rỡ và khuyến khích mọi người một lòng dốc quyết ở kiên trung với Chúa, vì ông là một người tốt lành, đầy Thánh Thần và lòng tin" (Cv 11, 23 - 24).

Khi Barnaba nhận thấy rõ lợi ích lớn lao có thể đem lại cho cả dân ngoại cũng như người Dothái, ông liền nghĩ đến Phaolô. Người tài đức, thông minh, nhiệt tình như thế mà không dùng thì uổng phí quá ! Barnaba liền đi đến Tarsô, ở đó ông gặp Phaolô và đưa ông trở về Antiôkia.

"Cả một năm trường, hai ông đã hợp tác với nhau trong Hội Thánh nơi ấy, và đã giảng dạy cho một đám đông. Vả lại cũng chính tại Antiôkia mà môn đồ đã được mệnh danh là Kitô hữu" (Cv 11, 26).

Rồi trong khoảng thời gian độ bốn năm từ 45 - 49 (sau TCGS), Phaolô và Baranaba ra đi băng ngàn vượt bể. Ðây là thời gian hành trình truyền giáo đầu tiên của hai ông, đi từ Antiôkia đến đảo Kyprô rồi lên phía bắc tận Tiểu Á. Luca nhấn mạnh rằng đây cũng là do Thánh Thần soi sáng.

"Lần kia nhân lúc họ phụng sự Chúa và ăn chay, Thánh Thần đã phán : Hãy tách riêng Baranaba và Phaolô ra cho Ta, để sung vào việc Ta đã kêu gọi chúng làm. Sau khi đã ăn chay và cầu nguyện, họ đặt tay và tiển các ông đi. Vậy các ông được Thánh Thần sai đi thì đã xuống Sêlêukia, rồi từ đó vượt biển qua Kyprô" (Cv 13, 2 - 4).

Luca kể lại rằng Phaolô, giống như Stêphanô và Barnaba, đều là những nhà tiền phong của tư tưởng Công Giáo, được đầy tràn Thánh Thần (13, 9) trong suốt giai đoạn vất vả của ông. Chuyến du hành đầu tiên này đem lại kinh nghiệm rất có ý nghĩa là người Dothái thì chống lại lời loan báo Tin Mừng, đang khi đó thì dân ngoại đón nhận nó một cách chân thành và đông đảo. Nơi nào Phaolô và Baranaba đặt chân đến, cũng đều như thế cả. Họ vẫn bắt đầu rao giảng cho người Dothái, bởi vì trong chương trình cứu độ, đức tin đã được ban cho họ trước tiên như là Dân Thiên Chúa. Khi người Dothái khước từ, các nhà truyền giáo ấy mới quay sang dân ngoại, và thấy họ sẵn sàng hâm mộ đón nghe. Chắc chắn kinh nghiệm thực tế này làm cho Phaolô vững tin rằng tương lai của Kitô giáo là ở trong dân ngoại. Không phải ông tuyệt vọng đối với dân của ông, nhưng ông nhận thấy rằng theo ý định khôn lường của Thiên Chúa thì dân ngoại dường như phải được ưu tiên gia nhập Giáo Hội trước người Dothái. Tất cả điều này rất rõ rệt trong lời tường trình của Phaolô về kinh nghiệm của ông ở Pisidi Antiôkia. Người Dothái ở đó phản đối lời rao giảng của Phaolô và của Barnaba và âm mưu bách hại họ. Vì thế các nhà truyền giáo này buộc lòng phải quay chú ý sang dân ngoại. Qua tất cả việc này, cũng chính là do sự mạc khải của Thánh Thần và sự hiểu biết thực tế qua kinh nghiệm chua xót, mà bản chất công giáo của Giáo Hội Ðức Kitô mỗi ngày một thêm rõ rệt trong tâm trí các nhà rao giảng Tin Mừng.

"Hưu lễ sau, hầu như tất cả thành đã hội lại để nghe lời Thiên Chúa. Người Dothái thấy đoàn lũ dân chúng thì đầy lòng ghen tương và buông lời lộng ngôn khích bác các điều Phaolô giảng. Ðầy dạn dĩ, Phaolô và Baranaba nói : Bắt buộc chúng tôi phải nói lời Thiên Chúa cho các nguơi trước. Nhưng bởi các ngươi khước từ lời ấy, và tự lên án là các ngươi bất xứng với sự sống đời đời, thì này chúng tôi quay sang người ngoại. Vì Chúa đã truyền dạy chúng tôi như vậy : Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên nguồn cứu độ cho đến cùng mặt đất. Nghe vậy, người ngoại mừng rỡ và ca tụng lời Chúa ; và họ đã tin, những ai đã được Chúa định cho vào sự sống đời đời. Còn Lời Chúa, thì đã lan truyền ra khắp xứ. Những người Dothái đã xách động những phụ nữ khá giả đã tòng giáo, và những kỳ hào trong thành và đã gây nên một cuộc bắt bớ cho Phaolô và Barnaba, và người ta đã trục xuất các ông ra khỏi vùng" (13, 44 - 50).

Ở đây cũng nên lưu ý rằng Phaolô đã tự gán cho mình danh hiệu "Ánh sáng dân ngoại", đó là một ơn gọi đã được Isaya đệ nhị loan báo trước kia khi nói về Người Tôi Tớ đau khổ của Yavê. Phaolô biết rất tỏ tường rằng chính Ðức Kitô là Người Tôi Tớ đã chuộc tội nhân loại bằng cái chết của mình. Nhưng ông cũng biết rằng Ðức Kitô sống trong ông, dùng ông như là một khí cụ riêng để truyền bá ánh sáng Kitô giáo vào thế giới tối tăm của dân ngoại. Vào lúc cuộc hành trình đầu tiên này chấm dứt, thì bản chất phổ bác của Kitô giáo đã hoàn toàn rõ rệt trong tâm trí của Phaolô. Giáo Hội của Ðức Kitô là Giáo Hội Công Giáo. Tất cả mọi người đều được mời gia nhập. Dothái cũng như không Dothái, và điều có vẻ lạ lùng và trái ngược, là chính thế giới không Dothái lại ồ ạt gia nhập. Ðiều này cũng nảy sinh một hậu quả ngoài lề trong ý nghĩ của Phalô. Việc Ðức Kitô sẽ đến lần thứ hai sẽ xảy ra sau khi người Dothái gia nhập Giáo Hội. Giờ đây Phaolô nhận thấy rằng dân ngoại được mời gọi gia nhập trước dân Dothái. Sự kiện này đẩy lui lại rất xa ngày Ðức Kitô sẽ đến lần thứ hai. Kết quả là Phaolô và những Kitô hữu khác đều được khuyến khích tập trung nhiều hơn nữa vào những nguồn quan trọng của sự sống siêu nhiên trong Giáo Hội, để họ được nâng đở trong lúc chờ đợi lâu dài ngày Ðức Kitô lại đến.

Khi trở lại Antiôkia, Phaolô và Barnaba đã kể lại những kinh nghiệm của mình cho các bạn Kitô hữu khác. May mắn thay, họ cũng được thuật lại rằng, trong lúc họ đang trên đường đi truyền giáo, thì Giáo Hội tại Antiôkia cũng thu lượm được một sự thành công y hệt như thế. Mọi người đều kết luận là đức tin, thể theo Thánh Ý của Thiên Chúa được Thánh Thần mạc khải, đã mở rộng cửa cho các dân ngoại.

"Ðến nơi (Antiôkia), các ông nhóm họp Hội Thánh và trần thuật lại mọi điều Thiên Chúa đã làm với các ông, là Ngài đã mở cửa đức tin cho các dân ngoại" (14, 27).

Hình ảnh đang sáng sủa. Vấn đề của Giáo Hội sơ khai gần như đã được giải quyết.


CÔNG ÐỒNG YÊRUSALEM.

Những bước khác nhau do đó mà Stêphanô, Phêrô, Phaolô và Barnaba, tất cả với sự trợ lực của Thánh Thần, đã làm sáng tỏ tính cách công giáo của Hội Thánh, đã đạt mục đích thích hợp tại Công Ðồng Yêrusalem vào năm 50 (sau TCSG). Công Ðồng được triệu tập là do thái độ ngoan cố của người Kitô hữu Dothái, họ còn quá quyến luyến Dothái giáo. Những người này đòi hỏi phải bắt người ngoại mới trở lại "chịu cắt bì và truyền cho họ giữ luật của Môsê" (15, 5). Lý thuyết thần học của Stêphanô, việc Phêrô rửa tội cho Cornêliô, những kinh nghiệm của Phalô và Barnaba đều trái ngược với lối quảng diễn Kitô giáo như thế. Nhưng thành thật mà nói, cũng dễ hiểu được tại sao thái độ của người Dothái còn lưu luyến với sự cần thiết của lề luật Môsê hãy còn tồn tại lâu dài như thế. Truyền thống lâu đời trên 1200 năm kể từ thời Môsê đến nay đã để lại những tập quán và những thành kiến mà không dễ gì dập tắt được trong vài tháng hay vài năm.

Các Kitô hữu tại Antiôkia bị náo động đặc biệt trước aự đòi hỏi quyết liệt của những Kitô hữu Dothái bênh vực cho sự cần thiết của lề luật Môsê. Antiôkia gởi một phái đoàn do Phaolô và Barnaba cầm đầu, đến Yêrusalem để thỉnh ý kiến chính thức của các tông đồ về vấn đề cam go này. Trong suốt cuộc hội nghị ở đó, thường quen gọi là Công Ðồng Yêrusalem, những kinh nghiệm của Phêrô, Phaolô và Barnaba là những yếu tố quyết định. Phêrô nhắc lại việc Thánh Thần đã được ban xuống cho Cornêliô và gia đình ông như thế nào, ơn Thánh Thần không hề phân biệt Dothái hay không phải Dothái. Barnaba và Phaolô tiếp lời bằng cách mô tả những phép lạ Thiên Chúa đã làm cho dân ngoại trong suốt những cuộc hành trình của hai ông. Việc tóm lược và kết luận cuối cùng là do Yacôbê, Giám Mục Yêrusalem và là người bà con với Chúa Giêsu. Tương truyền rằng ông này là một người rất tuân giữ lề luật, một người mà ngay cả tua áo của người biệt phái cũng phải lắng nghe. Lời kết luận của ông liên quan đến dân ngoại, giống y hệt kết luận của ba thuyết trình viên. Những người ngoại trở lại với Chúa không còn phải lệ thuộc vào những điều khắt khe trong lề luật Môsê. Tuy nhiên, để duy trì sự hòa thuận và hợp nhất, ông khuyên các người ngoại ít ra hãy tuân giữ những điều đã qui định trong sách Lêvi (các chương 17 - 18) cho những người ngoại sống ở Phalệtinh, nhất là họ hãy tránh những thức ăn đã dâng cúng cho tà thần, thịt chưa lấy sạch huyết và hôn nhân giữa những họ hàng mà lề luật Môsê đã cấm. Những điều qui định mà Yacôbê đã liệt kê phải được coi như là một sự nhượng bộ thực tế về những điều không cần thiết. Chẳng hạn sự qui định về huyết, sẽ làm cho việc giao tế giữa những người Dothái và những người Kitô hữu gốc ngoại trở nên đơn giản hơn. Những Kitô hữu Dothái do đó sẽ có thể ngồi ăn đồng bàn với những người ngoại mà không lấy làm khó chịu hay là buồn nôn trước những thức ăn mà họ có thành kiến. Sắc lệnh cuối cùng của Công Ðồng thật là đáng ngạc nhiên bởi vì nó biểu lộ lòng tin tưởng nơi sự trợ lực của Thánh Thần trong suốt cuộc thảo luận.

"Các tông đồ, hàng niên trưởng, tức là những người anh em, gởi lời chào các anh em gốc ngoại tại Antiôkia, Syri và Kilikia. Nhân vì chúng tôi đã nghe tin là có ít người từ nơi chúng tôi đã đến gây rối nơi anh em, nói năng làm xáo trộn tâm hồn anh em, những kẻ không do chúng tôi uỷ quyền, nên sau khi đã được đồng tâm nhất trí nên chúng tôi quyết định sai ít người được chọn đến với anh em, làm một với Barnaba và Phaolô, những anh em quý mến của chúng tôi, những người đã liều mạng sống mình vì Danh Chúa chúng ta, Ðức Giêsu Kitô . Thánh Thần và chúng tôi quyết định không chất thêm gánh nặng nào cho anh em, trừ vài điều cần kíp này." (Cv 15, 23 - 28).

Sau đó tiếp đến ba điều căn dặn của Yacôbê và những người khác.

Với huấn dụ này của Công Ðồng Yêrusalem, Thánh Thần đã ban cho một cách giải quyết tốt đẹp vấn đề dân ngoại, chỉ trong khoảng thời gian ngắn độ 20 năm. Stêphanô đã góp phần nhiều vào cách giải quyết đó. Phêrô, Phaolô và Barnaba cũng vậy. Nhưng trong suốt quá trình này, chính Thánh Thần đã soi sáng hướng dẫn những nhân vật khác nhau thi hành đúng vai trò của mình. Với những cánh cửa của Hội Thánh giờ đây mở rộng cho dân ngoại, Phaolô và những nhà truyền giáo khác vội vã băng ngàn vượt bể đi truyền bá Tin Mừng Ðức Kitô. Việc cứu độ do Ðức Kitô đã hoàn tất, được thông phần qua sự hợp nhất với Ngài, giờ đây được lan rộng đến những người Dothái cũng như dân ngoại. Tất cả đều sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ lâu dài hàng thế kỷ và đáp theo ơn gọi của mình để làm cho thế giới trở nên một trong Ðức Kitô, và trong Ðức Kitô, trở nên một với Thiên Chúa. Hết mọi người đều được mời trở lại tính bản thiện Thiên Chúa đã ban cho nhân loại trước khi Tổ Tông phạm tội.

Tác giả: Giuse Võ Đức Minh, Gm



LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ- PHẦN I I/ TÂN ƯỚC - CHƯƠNG 9


CHƯƠNG IX : KITÔ GIÁO & DOTHÁI GIÁO.


MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA HAI TÔN GIÁO NÀY.

Chúng ta thấy rằng Thiên Chúa đã thiết lập hai giao ước chính thức, hai tôn giáo chính thức trên thế giới. Giao ước thứ nhất với Môsê, tức là giao ước cũ phát sinh từ trên núi Sinai. Giao ước thứ hai với Ðức Kitô, Môsê Mới, trên núi các mối phúc thật và được bảo chứng trên Núi Sọ. Sự khảo luận về việc cứu độ đến đây đã gần chấm dứt, thiết tưởng cũng nên nói ít lời về mối tương quan giữa hai giao ước ấy. Bởi vì có một mối tương quan rất rõ rệt. Ðức Kitô, mặc dù sinh ra do một nữ trinh, và như thế là có sự phá vỡ giữa cũ và mới, vẫn là thuộc dòng dõi Abraham và Ðavít. Sự việc này liên kết hai tôn giáo lại, và như thế chúng đều nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Nhưng mối tương quan thực ra ở chỗ nào ?

Ở đây, một lần nữa, chúng ta phải quay sang nhà thần học của Tân Ước, thánh Phaolô. Ðối với ông vốn là con người Biệt Phái đã được rèn luyện lâu năm để hiểu biết và yêu mến lề luật Môsê, vấn đề này có tầm quan trọng sâu xa. Ông giải thích mối tương quan giữa Dothái giáo và Kitô giáo bằng nhiều cách khác nhau, mà tất cả họp chung lại sẽ cho ta một hình ảnh đầy đủ.

Trước hết, Dothái giáo có nhiệm vụ làm quản giáo cho Kitô giáo, từ ngữ quản giáo ở đây có thể bị hiểu lầm. Nó được phiên dịch từ tiếng Hylạp và có nghĩa như người sư phạm. Ðể tránh lầm lẫn, nên nhớ luôn rằng đối với người Hylạp, người sư phạm là một người nô lệ dẫn đứa trẻ đi học, một khi đứa trẻ đã được đưa tới cửa trường, là nhiệm vụ của sư phạm đã xong. Từ ngữ quản giáo hay sư phạm mà Phaolô dùng để chỉ Dothái giáo phải được hiểu theo ý nghĩa này. Nhiệm vụ của Dothái giáo là dẫn thế giới tới cửa Ðức Kitô. Một khi đã tới đó, là nó đã xong nhiệm vụ, nói thế dĩ nhiên là không có ý làm suy giảm sự quan trọng công việc của nó, nhưng, và điều này được Phaolô nhấn mạnh, công việc của nó đến đây là chấm dứt. Thế giới đã được dẫn đưa tới cửa Ðức Kitô : Những ngày của Dothái giáo giáo đã hết rồi.

"Cho nên lề luật đã thành quản giáo dẫn tới Ðức Kitô, ngõ hầu ta được giải án tuyên công do đức tin. Một khi đức tin đến rồi, ta không còn ở dưới quyền quản giáo" (Gal 3, 24 - 25).

Một cách giải thích thứ hai, so sánh Dothái giáo như là một đứa trẻ, vị thành niên, còn Kitô giáo như là người lớn, đã thành niên. Trong thời gian đứa trẻ còn bé, nó được đối xử gần như một nô lệ, nó bị canh chừng và theo dõi. Gia tài đã được hứa cho nó rồi, nhưng nó không được hưởng và xử dụng. Một khi nó đã trưởng thành, tình thế đổi khác hẳn. Nó là một người con đã lớn, đã thành niên và là một người kế thừa có trọn quyền trên gia tài của mình. Dothái giáo so sánh với Kitô giáo, theo nhận xét của Phaolô, cũng gần tương tự như thế. Dothái giáo bao giờ cũng vẫn là non trẻ, được coi gần như nô lệ, và bị ràng buộc bằng đủ thứ luật lệ. Kitô giáo là người trưởng thành, được tự do trong sự tự do của Thánh Thần, và đã hưởng gia tài, là Thánh Thần mà Ðức Kitô Phục Sinh ban cho. Xin nhắc lại lần nữa Phaolô không bao giờ có ý mạt sát Dothái giáo. Tóm lại người trưởng thành là người đã đạt tới giai đoạn một đứa trẻ phải tới. Câu "Ðứa trẻ là cha của người lớn" (Child is father of the man) là theo nghĩa đó. Không có, và không bao giờ có thể có sự chia cách giữa hai giai đoạn này trong đời sống của con n. giai đoạn thứ hai được dựa trên giai đoạn thứ nhất, tùy thuộc vào nó, khác hẳn với nó, nhưng nhất thiết liên quan với nó.

"Thiết nghĩ : bao lâu kẻ thừa tự còn là niên thiếu, thì không khác gì nô lệ, tuy nó là chủ cả mọi sự, nhưng nó phải ở dưới quyền bảo phụ và quản gia, mãi cho mãn hạn người cha đã định. Chúng ta cũng vậy, khi ta còn là niên thiếu, ta phải làm nô lệ dưới quyền những nhân tố trần gian. Nhưng khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa đã sai Con của Ngài, sinh bởi người nữ, sinh dưới lề luật, ngõ hầu ta được chịu lấy quyền nghĩa tử. Mà bởi vì anh em là con cái, thì Thiên Chúa đã sai Thần Khí Con của Ngài vào lòng anh em, Thần Khí kêu lên : Abba, lạy Cha. Cho nên ngươi không còn là nô lệ, nhưng là con, mà nếu là con, thì cũng là kẻ thừa tự thể theo ý của Thiên Chúa" (Gal 4, 1 - 7).


Thiết tưởng cũng là điều hữu ích khi chúng ta thử nêu lên một số đặc điểm chứng tỏ mối tương quan giữa hai tôn giáo này mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại. Sau đây là bảng liệt kê một số yếu tố tương quan trong mỗi tôn giáo :

 GIAO ƯỚC CŨ : NIÊN THIẾU

1. Một Thiên Chúa duy nhất (độc thần) - Ðạo lý tối cao của Dothái giáo là sự hiện hữu của một Thiên Chúa duy nhất. Ðây là sở hữu độc đáo của nó, mà các nước chung quanh không hề có.

2. Lề luật của người Dothái đặt nền tảng trên thập giới. Tất cả giới luật này đều dựa trên đức công bình, "của anh, của tôi". Con người phải trả lại cho Thiên Chúa cái gì thuộc về Ngài, và không được lạm dụng cái gì thuộc về Thiên Chúa ; con người phải trả cho đồng loại cái gì thuộc về họ, và không được trộm cắp, hủy diệt hay ước muốn nó (lòng yêu mến cũng là một điều răn trong Cựu Ước, nhưng nó rất là hạn hẹp về lý thuyết cũng như thực tế. Ít khi nó được hiểu là phải bao gồm cả những người không phải Dothái, huống chi là kẻ thù địch).


3. Những hiến lễ của Dothái giáo là thú vật và sản phẩm. Có những hy lễ, hiến lễ hiệp thông, đền tội, dâng hương, dâng bánh và hoa màu của ruộng đất.

GIAO ƯỚC MỚI : TRƯỞNG THÀNH

1. Ba Ngôi - Ðây là chân lý tối cao của Kitô giáo. Dĩ nhiên nó không phủ nhận việc chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, mà nó thêm vào cái chân lý căn bản này một sự hiểu biết sâu xa hơn nhiều về bản tính của Thiên Chúa Ba Ngôi bằng nhau : Cha Con và Thánh Thần.

2. Lề Luật của Ðức Kitô thì cao thượng hơn nhiều, nói được là đơn giản hơn, nhưng chắc chắn là khó hơn nhiều. Nó có thể được diễn tả bằng hai tiếng YÊU MẾN. Có nghĩa là phải mến Thiên Chúa trên hết tất cả, và hết sức mình, và thương yêu đồng loại như chính mình. Ai yêu mến đồng loại (và đối với người Kitô hữu, đồng loại là tất cả mọi người) thì không cần bảo đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng cướp đoạt vợ người. Theo chiều hướng này thì Luật Bác Ái đã làm cho Thập Giới trở thành không cần thiết nữa.

3. Hiến lễ của Kitô giáo thì cao hơn hiến lễ của Dothái giáo nhiều. Ðồng thời nó bao gồm tất cả mọi khía cạnh trong hiến lễ Cựu Ước. Mình và Máu Ðức Kitô, của lễ yêu mến và vâng phục, là hiến lễ trên Núi Sọ và được tái diễn

4. Ðiều người Dothái lấy làm hãnh diện nhất là tước hiệu Con của Thiên Chúa. Ðiều này có nghĩa là Thiên Chúa đối xử với họ theo tình cha con. Ngài hành động như một Người Cha đối với con và họ phải tuân phục Ngài như con đối với cha.

5. Cuộc xuất hành là công việc cứu độ của Thiên Chúa trong tôn giáo cũ. Hiệu quả của nó là cứu thoát khỏi ách nô lệ Aicập. Những yếu tố chính của nó là sự rảy máu trên cửa và sự vượt biển

6. Của ăn trong cuộc xuất hành là manna, thứ bánh hữu hình Thiên Chúa cung cấp trong những năm ở sa mạc. Nó duy trì sự sống tự nhiên của con người.

7. Ðền thờ của lề luật cũ được xây cất bằng đá và gỗ, để Thiên Chúa cư ngụ trong những năm Khám Giao Ước được cất trong đó. Nó cũng là trung tâm thờ phụng của dân Dothái.

8. Tiên tri Hôsê mô tả Israel như là bạn trăm năm của Yavê, một người bạn trăm năm thất tín, nhưng Thiên Chúa đã yêu thương nó với tình yêu khôn tả.

trong lễ Missa. Những lễ vật này cao trọng hơn lễ vật Môsê, cũng như Thiên Chúa làm người cao trọng hơn thú vật. Ðồng thời sự chết của Ðức Kitô là một hy lễ và cũng là một sự lấy máu để tạ tội. Sự tái diễn hiến lễ đó trong lễ Missa là một hiến lễ hiệp thông, dùng bánh rượu là hoa màu của ruộng đất và dùng hương.

4. Sự được làm Con Thiên Chúa của người Kitô hữu cao hơn thế nữa. Họ là Con Thiên Chúa là vì họ hợp nhất cách thiêng liêng và mật thiết với Ðức Kitô là chính Con của Thiên Chúa. Trong Ðức Kitô, Con Thiên Chúa, họ trở thành Con Thiên Chúa. Thiên Chúa nhìn họ và thấy Ðức Kitô mà họ đã hợp nhất.


5. Kitô hữu cũng có một cuộc xuất hành, ra khỏi ách nô lệ tội lỗi. Chính Ðức Kitô, Môsê Mới, đã thực hiện nó bằng cách đổ chính máu của Ngài. Chúng ta thông phần vào công ơn cứu độ qua nước của phép Rửa Tội.

6. Của ăn trong cuộc xuất hành của người Kitô hữu là thứ bánh được Ðức Kitô ban cho, chính Mình và Máu Ngài dưới hình thức phép Thánh Thể. Bánh này duy trì và tăng cường sự sống thiêng liêng trong những năm con người vượt qua sa mạc để vào Ðất Hứa trên trời.

7. Chính Ðức Kitô đã trở nên Ðền Thờ của chúng ta. Ngài đã mạc khải chân lý này khi nói rằng trong ba ngày, Ngài sẽ tái lập Ðền Thờ, Ngài có ý nói về thân xác Ngài (Yn 2, 21). Ngài là Ðền Thờ có nghĩa là Thiên Chúa phải ở trong Ngài, bởi vì Ngài là chính Thiên Chúa. Trong Ngài, chúng ta trở nên Ðền Thờ của Thiên Chúa. Ðồng thời, chính trong phép Thánh Thể là trung tâm thờ phụng của các Kitô hữu. Tấ cả nghi lễ phụng vụ của chúng ta đều tập trung vào lễ Missa và phép Thánh Thể.


8. Thánh Phaolô cũng nói về Giáo Hội như là bạn trăm năm của Ðức Kitô. Nói như thế, ông thêm một chân lý thiêng liêng sâu xa nữa vào ý nhiệm đó. Không những Ðức Kitô yêu mến và coi Giáo Hội như là bạn trăm năm của mình. Ngài lại còn hợp nhất Giáo Hội với thân thể Phục Sinh của Ngài bằng đức tin, các Bí Tích và đức mến.
Sự đối chiếu như thế giữa đứa trẻ niên thiếu và người tráng niên trưởng thành cho thấy rõ Kitô giáo hơn hẳn Dothái giáo. Kitô giáo là một cái gì giống như Dothái giáo, nhưng vượt hẳn Dothái giáo rất nhiều chẳng khác gì đứa trẻ niên thiếu đã lớn lên để trở nên người tráng niên trưởng thành, làm chủ gia nghiệp của mình.


Phaolô cũng cung cấp một hình ảnh thứ ba và cuối cùng, để mô tả mối tương quan giữa hai tôn giáo, bằng cách dùng những từ ngữ tương phản giữa lời hứa và sự thi hành lời hứa. Từ đầu chí cuối, Dothái giáo là một tôn giáo của lời hứa. Nó luôn luôn nhìn về tương lai, về những ngày sẽ đến, ngày mà những lời hứa cho Abraham, Môsê, Ðavít và các tiên tri được trọn vẹn. Tất cả những lời hứa đó đã được trọn vẹn nơi Ðức Kitô, và kết quả là một Giao Ước mới, một tôn giáo mới. Phaolô đã khẳng định một cách linh động và vắn tắt sự Ðức Kitô làm trọn vẹn các lời hứa.


"Nhiều điều Thiên Chúa đã hứa thành có trong Ngài" (2Cr 1, 20).


Những lời hứa đã được trọn vẹn nơi Ðức Kitô như thế nào ?


Lời hứa trong sách Khởi Nguyên, chương 3 câu 15, về sự Satan bị đạp dập đầu trong một cuộc giao tranh mà dòng giống người đàn bà chỉ bị thương nhẹ đã được trọn vẹn qua sự chết và Phục Sinh của Ðức Kitô. Thật vậy, dòng giống người đàn bà đã bị thương, và bị thương đến chết, nhưng đó là sự chiến thằng của Ðức Kitô trên tội lỗi, được nối tiếp bằng sự Phục Sinh của Ngài là cuộc chiến thắng trên chính sự chết. Và chính lúc Ðức Kitô dường như có vẻ bị thua Satan, thì tình thế đã đảo ngược. Sự chết không làm gì được Ðức Kitô, và khi cất mạng sống của Ðức Kitô, thì vương quốc Satan bị thua cuộc. Phaolô đã nêu rõ điều này cho chúng ta.


"Chúng tôi nói lên sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong mầu nhiệm, sự khôn ngoan giữ kín, từ trước đời đời Thiên Chúa đã tiền định làm mối vinh quang cho ta" (1Cr 2, 7 - 8).


2. Lời hứa với Abraham rằng các nước các dân sẽ được chúc phúc nhờ gia đình của ông, đã được trọn vẹn nơi Ðức Kitô. Là con cái Abraham, Ngài đã ban phúc lành ấy cho các dân các nước, những người không phải Dothái, đã hợp nhất với Ngài. Những người này đã trở thành, trong Ngài, con cháu của Abraham. Phaolô thường nói về điều này trong các thư gửi tín hữu Rôma và Galát. Ông gói trọn chân lý này trong một câu đơn giản nhất.


". Ngõ hầu chúc lành của Abraham, dân ngoại cũng được chịu lấy trong Ðức Giêsu Kitô ; ngõ hầu nhận bởi lòng tin, ta được lãnh lấy ơn đã hứa, tức là Thần Khí" (Gl 3, 14).


3. Lời Nathan hứa với dòng dõi Ðavít nói về một vương quốc sẽ được vĩnh cửu và phổ bác. Tất cả quyền Phúc Âm Matthêu đều nói về vương quốc này. Vương quốc ấy là Giáo Hội, Thân Thể mầu nhiệm của Ðức Kitô. Bởi vì chính Ðức Kitô đã khai sinh vương quốc đã hứa ấy, cho nên Matthêu thường nhấn mạnh trong suốt cả hai chương đầu Phúc Âm của ông rằng Ðức Kitô là con vua Ðavít. Cũng nên nhớ rằng khi tường thuật việc turyền tin, Luca nói cách trực tiếp rằng con của Ðức Maria là một dòng dõi thuộc vương tộc Ðavít, là Ðấng sẽ làm chủ vương quốc vĩnh cửu.


"Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Ðavít cha Ngài, và Ngài sẽ làm vua trên nhà Yacob cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận" (Lc 1, 32 - 33).


Lời hứa này nói về dòng dõi Ðavít, và lời hứa trước nói về sự dân ngoại được chúc phúc, đã được phối hợp thành một trong Isaia chương 11 câu 10. Phaolô trích dẫn Isaia, trong khi ông chú thích rằng Ðức Kitô là sự trọn vẹn của lời hứa.


"Ðức Kitô đã phục vụ giới cắt bì, để chứng thực lòng chân thành của Thiên Chúa, làm cho các lời hứa trên cha ông được nên kiến hiệu. Còn dân ngoại đã được chứng nhận vì lòng nhân nghĩa, để họ tôn vinh Thiên Chúa như đã viết . : Chồi lộc Ysai sẽ xuất hiện, Ðấng sẽ trỗi dậy thống trị muôn dân, muôn dân sẽ trông cậy vào Ngài" (Rm 15, 8 - 12).


4. Yêrêmia cũng đã tuyên bố một lời hứa trọng đại :

"Này sẽ đến những ngày - sấm của Yavê - Ta kết với nhà Israel và nhà Yuđa một giao ước mới" (Yr 31, 31).


Ðức Kitô đã thiết lập một Giao Ước Mới, một tôn giáo mới. Nó đã được ấn chứng cũng như giao ước cũ đã được Môsê ấn chứng. Trên núi Sinai, Môsê đã rảy máu trên bàn thờ đại diện cho Thiên Chúa, rồi rảy trên dân chúng. Ðây là một biểu hiệu, một dấu bề ngoài cho thấy rằng Thiên Chúa và dân của Ngài giờ đây đã trở nên một gia đình, một máu huyết. Ðức Kitô đã ấn chứng tôn giáo mới bằng chính Máu của Ngài. Khi Phaolô nói về những điều tương truyền liên quan đến bữa tối Tiệc Ly mà ông đã được phổ biến lại, ông dùng những từ ngữ nói về sự rượu nho đã trở nên máu gần giống y những từ ngữ Môsê đã dùng ("Ðây là máu của giao ước" -Xh 24, 8), nhưng ông còn thêm chữ "mới" vào để chỉ về lời tiên tri của Yêrêmia.


"Cũng vậy về chén, sau khi đã dùng bữa tối xong, Ngài nói : Chén này là Giao Ước Mới trong Máu Ta" (1Cr 11, 25 ; Hr 6, 6 - 13 cũng nhấn mạnh điều đó).


Lễ Missa là hiến lễ của Giao Ước Mới, theo lời hứa của Yêrêmia, đồng thời nó cũng là hy lễ phổ bác như Malaki đã hứa. Tiên tri này thường nói : "Từ phương mặt trời mọc, cho đến phương mặt trời lặn, Danh Thiên Chúa thật là lớn giữa các dân các nước". Khắp nơi đều có hiến lễ và lễ vật tinh tuyền cho Danh Ngài. Và thật ra, chính dân ngoại đã vào tôn giáo của Ðức Kitô và đã chấp nhận hiến lễ của Ngài như là hiến lễ của chính mình. Ðức Kitô đã truyền dạy trong bữa tối Tiệc Ly rằng hãy thường xuyên tái diễn hiến lễ này, tái diễn dưới hình bánh và rượu vốn thật là Mình và Máu Ngài. Ðể loan báo việc Ngài chịu chết cho tới khi Ngài lại đến lần cuối cùng.


"Chén này là Giao Ước Mới trong Máu Ta. Các ngươi hãy làm sự này mỗi khi uống, mà nhớ đến Ta. Vì mỗi lần anh em ăn Bánh ấy và uống Chén ấy, anh em loan báo sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến" (1Cr 11, 25 - 26).


5. Môsê cũng đã tuyên bố một lời hứa nói về một tiên tri vĩ đại sẽ đến. Một hàng dài những vị tiên tri kế tiếp ông đều góp phần vào sự làm cho trọn vẹn lời hứa này. Mỗi vị tiên tri đều là sứ giả của Thiên Chúa như Môsê vậy. Nhưng dân Dothái vẫn mong chờ một vị tiên tri tối cao, cỡ Môsê. Khi Yoan Tẩy Giả bắt đầu rao giảng bên kia sông Yođan, thiên hạ nghĩ rằng có lẽ ông là vị tiên tri đang được mong chờ chăng.


"Và đây là chứng của Yoan khi người Dothái từ Yêrusalem sai tư tế và Lêvi đến thỉnh vấn ông : Ông là ai ? Ông tuyên xưng chứ không chối, ông tuyên xưng rằng : Tôi không phải là Ðức Kitô. Họ lại hỏi : Vậy thì là gì ? Ông là Êlia ư ? Ông nói : Không phải. Ông là đấng tiên tri ư ? Ông đáp : Không" (Yn 1, 19 - 21)


Yoan không phải là vị tiên tri ấy, nhưng chính là Chúa Giêsu. Bài giảng của Phêrô nhân dịp chữa lành người tàn tật tại Cửa Ðẹp của Ðền Thờ đã nói rõ ràng sự làm cho trọn vẹn này.


"Ðức Giêsu là Ðấng hiện trời cao phải đón lấy cho đến thời buổi phục hồi vạn vật, điều mà Thiên Chúa đã phán do bởi miệng các thánh tiên tri của Ngài từ muôn thuở. Môsê đã nói : Chúa, Thiên Chúa sẽ cho trỗi dậy giữa anh em các ngươi một Tiên Tri như Ta. Các ngươi phải nghe Ngài trong mọi sự, Ngài sẽ nói cùng các ngươi. Sẽ xảy ra là phàm sinh linh nào không nghe Tiên Tri ấy, sẽ bị tiêu trừ khỏi dân Israel" (Cv 3, 21 - 23).


6. Sau hết, các tiên tri đã nói về một số sót được tuyển chọn, một nhóm ít người Dothái trung thành, sẽ sống sót sau mỗi hoạn nạn, sau mỗi cuộc tàn phá, để tiếp tục vận mệnh của Dân Thiên Chúa đã chọn, và để lãnh nhận lời hứa với họ. Nhóm sống sót này cũng được gặp thấy nơi Ðức Kitô, đặc biệt là nhóm ít người Dothái đã công nhận Chúa Giêsu là Ðức Kitô và đã hợp nhất với Ngài. Một số đông dân Israel đã từ chối Chúa Yêsu nên đã phải thiệt mất. Nhưng số ít người được tuyển chọn, những người thuộc số sót, đã đón nhận Ngài như là Ðấng Messia. Nơi họ, những lời hứa với Israel đã nên trọn vẹn.


"Thời bây giờ cũng vậy : số sót có đó, bởi ơn mà được chọn ! Mà nếu là bởi ơn, thì không còn là do tự việc làm . Ðiều Israel cố tìm thì đã không được, song đã được những ai được chọn" (Rm 11, 5 - 7).


Vậy hai tôn giáo ấy giống như một đứa trẻ thiếu niên so với một người con trưởng thành được quyền thừa tự, như lời hứa so với sự làm cho trọn vẹn. Dothái giáo phụng sự một mục đích quan trọng là dẫn đưa những vận mệnh thiêng liêng của thế giới cho đến Cửa là Ðức Kitô. Sự khác biệt căn bản giữa cả hai có thể diễn tả bằng hai tiếng : Ðức Kitô. Ngài là Ðấng dân Israel hy vọng và yêu cầu, Ngài là Vị cứu tinh và nguồn sống của Israel.


Quãng cách giữa hai tôn giáo ấy lớn như thế nào ? Thưa lớn như chính Ðức Kitô vậy ! Ngài thật là quãng cách ! Không phải vì thế mà những người Kitô hữu có quyền tự hào như thế đó là do kết quả công nghiệp hay giá trị của mình. Ðức Kitô là một ân huệ ban cho thế gian, mặc dù thế gian không xứng đáng. Ngài là một ân huệ ban cho linh hồn mỗi một người, đó là cử chỉ yêu thương và nhân từ tuyệt vời của Thiên Chúa. Sau hết, một nhận xét cuối cùng : Kitô giáo là cái cùng đích của Dothái giáo. Vì lý do đó, chứ không phải vì lý do nào khác, Kitô giáo phải bắt tay thân thiện với dân Dothái.



SỰ BÍ ẨN CỦA DO THÁI GIÁO.


Thật ra có hai điều bí ẩn lớn liên quan đến Dothái giáo. Ðiều bí ẩn thứ nhất là sự kiện đáng buồn này : Sau bao nhiêu thế kỷ mong đời Ðấng Cứu Thế và vị Ðế Vương của mình, nó không nhìn nhận ra được Ngài lúc Ngài đến. Ðó là điều các Kitô hữu đầu tiên cho là chướng nghịch nhất. Tại sao những anh em Dothái của họ lại có thể từ chối không tin ở Chúa Giêsu ? Phaolô đã cố gắng trả lời câu hỏi này từ chương 9 đến chương 11 trong bức thư ông gởi tín hữu Rôma. Ðiều bí ẩn thứ hai thì có tính cách hiện đại hơn : Dân Dothái đã làm thế nào để tiếp tục sống được một nhóm trong khoảng thời gian gần 2000 năm nay mà không có đền thờ, bàn thờ và hiến lễ ? Dĩ nhiên điều bí ẩn này không bao giờ đã tự trình diện với Phaolô, nhưng với thiên tài lạ lùng của ông, ông đã để lại cho chúng ta một nguyên tắc để căn cứ vào đó mà tìm ra giải đáp.


Không nhìn nhận Chúa Giêsu. Trước nhất, chúng ta cần phải xét xem việc dân Dothái không nhìn nhận Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế, là Vua thuộc dòng dõi Ðavít thiên hạ ngóng chờ. Nổi buồn rầu của Phaolô đối với sự kiện này thật là sâu xa và chân thành, đến nổi ông đã phơi bày một cách thảm thiết lòng yêu thương của ông đối với dân tộc ông trong những câu ông viết. Ông thương hại vì họ muốn tách rời khỏi Ðức Kitô thay vì cần phải hợp nhất với Ngài. Niềm hy vọng và nổi ước mơ tột đỉnh của ông là họ được ơn cứu độ.


"Trong Ðức Kitô, tôi nói thật, tôi không nói dối ; trong Thánh Thần lương tâm tôi làm chứng cho tôi, là tôi phải ưu phiền rất mực, và đau đớn không ngơi trong lòng. Tôi đã ước nguyện xin làm hiến vật tách khỏi Ðức Kitô vì anh em đồng chủng của tôi về phần xác. Họ là người Israel ; thuộc về họ, địa vị nghĩa tử, sự vinh quang, các Giao Ước, Lề Luật, việc phụng thờ, các Lời Hứa ; thuộc về họ, các Tổ Phụ ; và do tự họ, Ðức Kitô, về phần xác. Ðấng vượt trên mọi sự" (Rm 9, 1 - 5).


"Hỡi anh em, điều lòng tôi những mong mỏi nguyện cầu với Thiên Chúa là cho họ được đạt ơn cứu rỗi" (Rm 10, 1).


Thật vậy, sự kiện một số đông người thuộc Dothái giáo chưa trở thành người Kitô giáo là điều rất khó giải thích. Thiên Chúa đã phán hứa với Abraham, Môsê, Ðavít và các Tiên Tri ; hứa một dòng giống vô số, một vương quốc vĩnh cửu và phổ bác. Có lẽ nào một Thiên Chúa lại thất hứa ? Không nên nghĩ như thế.


"Hẳn không phải vì Lời Thiên Chúa đã trái hẹn" (Rm (9, 6).


Những lời Thiên Chúa phán hứa với miêu duệ của Abraham phải được nên trọn vẹn. Nhưng Phaolô hỏi, ai là dòng giống của Abraham để những lời hứa ấy được thực hiện ? Phải chăng chỉ là những người họ hàng với Abraham về phương diện tự nhiên, hay là những người mà chúng ta có thể gọi là con cái thiêng liêng của Abraham, tức là những người họ hàng với Abraham do sự hợp nhất thiêng liêng với Ðức Kitô, con của Abraham ? Câu trả lời của Phaolô được gặp thấy trong thư gửi tín hữu Rôma 9, 8 - và càng rõ rệt hơn, trong một đoạn của bức thư gửi tín hữu Galát.


"Nghĩa là : Không phải con cái theo xác thịt, tất là con cái Thiên Chúa, nhưng con cái theo lời hứa mới được kể là dòng giống" (Rm 9, 8).


"Vì hết thảy anh em là con cái Thiên Chúa nhờ bởi lòng tin trong Ðức Giêsu Kitô. Vì anh em, phàm ai đã được thanh tẩy trong Ðức Kitô, thì đã được mặc lấy Ðức Kitô : Không còn Dothái hay Hylạp ; không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ, vì hết thảy anh em là một trong Ðức Kitô Giêsu. Mà nếu anh em thuộc về Ðức Kitô, vậy thì anh em là miêu duệ của Abraham, những kẻ thừa tự thể theo lời hứa" (Gal 3, 26 - 29).


Thiên Chúa đã tỏ lòng nhân từ yêu thương đối với mọi Kitô hữu, Dothái cũng như dân ngoại, vì cả hai đều là con cháu của tổ phụ Abraham. Trong chương trình cứu độ, họ đã thế chỗ cho Israel xưa và hưởng mọi đặc quyền của nó. Họ đã trở thành con cái Thiên Chúa và dân tộc Ngài yêu quý.


"Những bình mang thương xót đó tức là chúng ta, Ngài đã kêu gọi không chỉ từ giữa Dothái, mà cả giữa dân ngoại. Như Ngài phán trong sách Hôsê : Ta sẽ gọi phi dân Ta làm dân của Ta, và kẻ thất sủng làm người đắc sủng. Và sẽ xảy ra là nơi đã nói với chúng : Các ngươi không phải là dân Ta, ở đó chúng sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa hằng sống" (Rm 9, 24 - 26).


Những con cái thiêng liêng của Abraham mới được tuyển chọn, chứ không phải những con cháu về phần xác thịt, sự kiện đó ăn khớp hoàn toàn với cách tuyển chọn của Thiên Chúa thường được thấy rõ ràng qua suốt lịch sử Israel. Thiên Chúa hay chọn lựa người này hơn người khác. Ngài đã chọn Isaac, con trai của Sara, chứ không chọn Isamel, con trai của Agar, mặc dù Abraham là cha của cả hai. Trong hai anh em song sinh Esau và Yacob, Thiên Chúa đã chọn Yacob mặc dù nhỏ hơn. Và giờ đây, Phaolô kết luận rằng Ngài lại tuyển chọn một lần nữa : tuyển chọn miêu duệ thiêng liêng của Abraham chứ không tuyển chọn dân Dothái là con cháu tự nhiên của Abraham. Lý do tại sao Thiên Chúa hành động như thế vẫn chưa ai hiểu thấu được. Thiên Chúa là Thiên Chúa, nghĩa là Ngài vẫn luôn luôn là bí nhiệm đối với con người, con người không thể hiểu hết các việc Thiên Chúa làm, hoặc tại sao Ngài làm như thế. Con người vật thụ tạo của Thiên Chúa, không dám tra vấn Ngài lý do và mục đích các việc Ngài làm. Phaolô nói :


"Hỡi người phàm kia, ngươi là ai mà dám cãi trả Thiên Chúa ? Há đồ vật đất lại nói với người nắn ra nó : tại sao ông đã làm tôi thế này sao ? Hay người thợ gốm lại không có quyền trên nắm đất thó, để từ cũng một nắm mà nặn ra : cái thì bình quý, cái thì bình xoàng ư ?" (Rm 9, 20 - 21).


Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại không được thừa nhận ? Xét về phương diện loài người, làm sao mà lại có một khúc cong như thế trong vận mệnh một dân tộc ? Làm sao mà nhiều người Dothái không chấp nhận sứ điệp các nhà truyền giáo Kitô hữu đầu tiên đã rao giảng cho họ, sứ điệp của Tin Mừng Chúa Giêsu là Ðức Kitô ? Ðó là những câu hỏi thực hiểm hóc, nhưng Phaolô đã làm hết sức để tìm cách giải đáp. Ông, một người trước kia vốn là Biệt Phái, biết rõ rằng dân Dothái thật sốt sắng, nhưng lòng sốt sắng của họ đã bị lạc hướng và thiếu sáng suốt. Họ đã đặt niềm hy vọng cứu độ của họ vào lề luật, vào khả năng của họ tuân giữ giới luật. Ðây là sự lầm lẫn căn bản, bởi vì ơn cứu độ chỉ được gặp thấy nơi Ðức Kitô mà thôi. Sự hợp nhất căn bản với Ðức Kitô - chỉ sự hợp nhất này mới đem lại ơn cứu độ - Phát sinh từ lòng tin tưởng nơi Chúa Giêsu, tin một cách vững vàng Ngài là Chúa đã Phục Sinh. Ðây chính là tâm điểm thảm kịch của người Dothái. Những công việc của họ là công việc do người thế phàm, không thể đem lại ơn cứu độ cho họ, nhưng họ lại sốt sắng với những công việc đó. Niềm tin nơi Chúa Giêsu là Chúa đã Phục Sinh, có thể cứu độ họ, nhưng họ lại không có niềm tin đó.


"Tôi chứng thực cho họ là họ có lòng nhiệt thành đối với Thiên Chúa, nhưng không được sáng suốt. Vì không nhận biết sự công chính của Thiên Chúa, và ra công thiết lập sự công chính riêng của mình, họ đã không suy phục sự công chính của Thiên Chúa. Vì đích cùng của Lề Luật, là Ðức Kitô, nguồn công chính cho mọi kẻ tin .

. Nếu ngươi tuyên xưng nơi miệng ngươi Giêsu là Chúa, và nếu ngươi tin trong lòng ngươi : Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại từ cõi chết, ngươi sẽ được cứu. Vì tin trong lòng thì được sự công chính, và nếu tuyên xưng nơi miệng thì được ơn cứu rỗi" (Rm 10, 2 - 4 ; 9 -10).


Như thế có phải là Thiên Chúa chối bỏ Israel chăng ? Phải chăng dân Dothái không còn liên hệ gì đặc biệt với Ngài nữa ? Phaolô, một người Dothái rất yêu mến dân tộc mình, không thể nghĩ như thế. Một mặt, không phải hết thảy mọi người Dothái đều chối bỏ Ðức Giêsu. Tất cả những Kitô hữu đầu tiên đều là người Dothái, và nơi họ Phaolô thấy có những người thuộc số sót mà các tiên tri thường hay nói đến. Theo tư tưởng các tiên tri thì không có một thảm kịch nào lớn lao cho bằng sự loại trừ người Dothái hoàn toàn ra khỏi sự phù trợ yêu thương của Thiên Chúa. Ðiều này đã được xác thực, theo lời chú thích của Phaolô, ngay cả trong việc Ðức Kitô làm cho Dothái giáo được trở nên trọn vẹn. Trong trường hợp này, một số sót tín hữu người Dothái cũng đã còn tồn tại trong việc hoàn thành ơn cứu độ của Kitô giáo. Theo ý nghĩa này thì chắc chắn là Thiên Chúa đã không chối bỏ Dân Ngài.


"Vậy tôi xin hỏi : Phải chăng Thiên Chúa đã ruồng bỏ Dân Ngài ? Ðừng nói gỡ ! Chứng là tôi đây : Một người Israel thuộc dòng giống Abraham, chi tộc Benjamin, Thiên Chúa đã không ruồng bỏ Dân Ngài đã biết đến từ trước. Hay anh em lại không biết Kinh Thánh nói gì trong truyện Êlia, khi ông thưa kiện Israel với Thiên Chúa : Lạy Chúa, chúng đã giết các tiên tri của Ngài ; sót lại chỉ có một mình tôi, và chúng đang tìm hại mạng tôi. Nhưng sấm ngôn nói gì với ông ? Ta còn chừa lại cho Ta bảy ngàn người không hề bái gối trước Baal. Thời bây giờ cũng vậy : số sót có đó, bởi ơn mà được chọn ! Mà nếu là bởi ơn, thì không còn là do tự việc làm, chẳng vậy ơn không còn là ơn ! Vậy thì sao ? Ðiều Israel cố tìm thì đã không được ; song đã được những ai được chọn" (Rm 11, 1 - 7).


Phaolô còn nhận xét một khía cạnh cứu độ khác nữa trong toàn thể câu chuyện đen tối này của thảm kịch quốc dân Dothái. Chính cái chỗ dân Dothái bị trầm luân, lại là nơi đưa đến ơn cứu độ cho dân ngoại, ơn cứu độ do niềm tin nơi Ðức Giêsu là Chúa đã Phục Sinh, dường như là sự mù quáng của dân Dothái đã đưa tới ánh sáng cho dân ngoại. Mỗi cụm mây đều có một đường viền bạc, cho nên sự nghĩ đến ơn cứu độ của dân ngoại nhờ đức tin nơi Chúa Giêsu đã đem lại cho Phaolô một một khía cạnh đầy an ủi trước cái thảm kịch của dân Dothái. Phaolô chợt nghĩ đến một hình ảnh để so sánh. Dân được Thiên Chúa tuyển chọn giống như một cây ôliu. Những cành tự nhiên và nguyên thủy của nó là dân Dothái, đã được tỉa bớt đi để được thay thế bằng những cành khác, là những dân ngoại đã được tiếp ghép vào cây ôliu, bởi vì giờ đây sự ngay thẳng là do niềm tin nơi Ðức Giêsu, mặc dù chính nó làm cho dân Dothái bị tỉa khỏi cây, cũng có hậu quả đến sự dân ngoại được tiếp ghép vào. Ðây là phần tươi sáng của bức tranh mà Phaolô muốn vẽ ra cho chính mình và cho độc giả. Nhưng ông cũng vội vàng cảnh cáo dân ngoại đừng tự phụ kiêu căng đối với dân Dothái. Sự được tiếp ghép vào cây ôliu là một ân huệ ban cho dân ngoại, chứ không phải là do công trạng của họ. Chắc chắn là họ sẽ đáp ứng lại bằng sụ biết ơn và đề phòng kẻo vì làm mất đức tin mà họ cũng bị tỉa đi.


"Nhưng nếu có ít nhiều nhánh bị chặt, và ngươi, ôliu hoang dại, được tháp thay vào, và thông phần màu mỡ tự gốc ôliu, ngươi đừng vinh vang lên mặt với các nhánh kia. Nếu có vinh vang thì này : Không phải ngươi mang rễ, nhưng rễ mang ngươi ! Ngươi sẽ đáp "nhiều nhánh đã được chặt cho tôi được tháp thay vào !" Hẳn rồi, vì không tin, nên chúng đã bị chặt, còn ngươi tin mà đứng đó ! Ðừng có tự cao tự đại, hãy sợ thì hơn. Vì nếu Thiên Chúa đã không tha những nhánh bẩm sinh thuộc gốc, thì Ngài cũng sẽ chẳng tha cho ngươi" (Rm 11, 17 - 21).


Sự sống còn của dân Dothái. Ðến đây Phaolô đưa ra cho chính ông, cho những đồng bào Dothái Kitô hữu của ông, và cho tất cả chúng ta ngày nay lời tiên đoán mau mắn, khả dĩ giúp chúng ta: Giải quyết một bí nhiệm sâu xa nữa liên quan đến Dothái giáo. Bằng cách nào và vì mục đích gì mà nó vẫn còn tồn tại xuyên qua bao nhiêu thế kỷ ? Từ ngày Yêrusalem bị quân Rôma hủy diệt năm 70 (sau TCGS). Người Dothái không còn đền thờ, bàn thờ và hiến lễ. Họ không có một quốc gia riêng biệt mãi cho tới khi nước Israel được tái lập cách đây ít năm. Họ đã bị lưu đày, đưa từ xứ này sang xứ khác, bị giam hãm trong những vùng biệt lập trên khắp thế giới (xin Thiên Chúa tha thứ cho), do chính những Kitô hữu là con cháu thiêng liêng của họ. Nhưng họ vẫn còn tồn tại. Ngay cả sự tàn sát khủng khiếp của Hítle cũng không tiêu diệt được họ. Trong lịch sử toàn thế giới, chưa từng có một nhóm dân tộc nào đã từng sống sót sau bao nhiêu tang thương như thế. Trong bất cứ quốc gia nào, người Dothái cũng có thể tổ chức thành một nhóm tràn đầy sinh lực, tuy nhiên họ vẫn là một nhóm riêng biệt, luôn luôn ý thức về lịch sử cổ thời của họ, luôn luôn được bàn tay Yavê phù trợ cho khỏi bị tiêu diệt. Phaolô dĩ nhiên là đã không thể thấy trước cái lịch sử lâu dài này của dân Dothái hãy còn kéo dài mãi cho đến thời chúng ta ngày nay. Tuy nhiên, ông đã cho chúng ta câu giải đáp để soi tỏ bí nhiệm này. Bởi vì ông tin tưởng chờ mong có ngày họ sẽ nhìn nhận Ðức Giêsu là Ðức Kitô của họ, là Chúa đã Phục Sinh của họ. Sự mù quáng của họ chỉ là tạm thời, sự tuyển chọn đầu tiên của Thiên Chúa, bằng cách nào đó, vẫn hãy còn bền vững. Khi đến ngày Thiên Chúa định, những cành nguyên thủy lại sẽ được tiếp ghép với cây ôliu. Ðó là ngày mà Phaolô chắc chắn và đã nóng lòng chờ đợi.


"Vậy hãy ngắm xem lòng nhân lành và sự nghiêm khắc của Thiên Chúa : nghiêm khắc với những kẻ sa ngã, nhân lành đối với ngươi, nếu ngươi kiên trì trong lòng nhân lành ấy ; bằng không, ngươi cũng sẽ bị chặt. Còn họ, nếu họ không kiên trì trong sự cứng tin, họ sẽ được tháp vào, vì Thiên Chúa có quyền ghép họ vào lại. Vì nếu ngươi bẩm sinh là nhánh lảy tự ôliu hoang dại, mà được tháp vào ôliu giống tốt, trái với bẩm tính, thì huống chi là họ, những cành chính gốc, họ sẽ được tháp vào thân cây ôliu gốc cũ của họ.

Hỡi anh em, tôi không muốn để anh em không hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự phụ mình khôn : Israel đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu . Xét theo Tin Mừng, họ là người thù nghịch, vì cớ anh em ; nhưng theo sự lựa chọn, họ là chí ái vì cớ cha ông. Vì ơn đã ban, lời đã gọi, Thiên Chúa không hề hối tiếc" (Rm 11, 22 - 29).


Chỉ khi nào Israel xưa trở lại với Ðức Kitô, thì công trình cứu độ mới thật là được thông phần đầy đủ, bởi vì chỉ lúc đó mới thực có sự hợp nhất phải có giữa Dothái và dân ngoại trong Ðức Kitô, đó là sự bí nhiệm Phaolô thường nói đến. Mãi cho đến hôm nay, chỉ những người Dothái thuộc số sót lại, số ít được tuyển chọn, mới nhìn nhận Chúa Cứu Thế và hợp nhất với Ngài, trong Ngài, hợp nhất với anh em dân ngoại. Hiệu quả đầy đủ công trình cứu độ của Ðức Kitô mà mục đích là sự hợp nhất trọn vẹn, vẫn chưa được hoàn tất cho tới khi nào dân Thiên Chúa đã chọn xưa kia nhìn nhận Ðấng Cứu Thế của mình. Chỉ bấy giờ công trình cứu độ mà Phaolô đã mô tả một cách hùng vĩ mới được hoàn toàn thừa nhận.


"Dân ngoại và Dothái, Ngài đã làm cho đôi bên nên một, triệt hạ tường ngăn thành chắn, tiêu biểu cho mối hằn thù - nhờ thân xác Ngài - thủ tiêu lề luật nguyên những điều răn lệnh chỉ, ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới, đem lại bình an và giảng hòa hai dân - trong một thân mình - với Thiên Chúa, nhờ Thập Giá, giết chết hằn thù - nơi mình Ngài" (Ep 2, 14 - 16).


Chương trình cứu độ, xét theo một phương diện đúng đắn đặc biệt, sẽ được hoàn tất với mọi hiệu quả của nó khi mà cả dân Dothái và dân ngoại đều được hợp nhất với nhau trong Ðức Kitô, và nhờ Ðức Kitô được hợp nhất với Thiên Chúa và sự thiện hảo của Thiên Chúa. Như thế sẽ làm cho đường tròn quá trình cứu độ trở về điểm cuối nơi mà nó đã bắt đầu trước kia, trở về với Thiên Chúa và sự thiện hảo của Thiên Chúa. Trong khi chờ đợi, tất cả chúng ta đều được mời gọi hoạt động với Ðức Kitô và với Thánh Thần của Ðức Kitô đang ở trong chúng ta, để thúc đẩy bằng mọi cách tiến triển của vương quốc Thiên Chúa nơi trần thế tức là Giáo Hội, về phương diện thiêng liêng cũng như về số lượng. Chương trình cứu độ chỉ được hoàn tất khi nào Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Ðức Kitô, được lan rộng khắp cùng vũ trụ.


Hết


Tác giả: Giuse Võ Đức Minh, Gm