Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

Tình trạng thời tiết hỗn loạn giờ đây sẽ được trải nghiệm bởi một số quốc gia. Cha Ta đang phẫn nộ (25/08/2011)

Tình trạng thời tiết hỗn loạn giờ đây sẽ được trải nghiệm bởi một số quốc gia. Cha Ta đang phẫn nộ (25/08/2011)

Thứ Năm ngày 25 tháng 8 năm 2011 lúc 8:00 tối
Con gái yêu dấu của Cha, hãy kêu gọi tất cả các chiến binh cầu nguyện của Cha cầu nguyện cho tha nhân. Họ gồm những người không tin và những người đang vướng mắc trong bạo lực và hận thù. Họ lang thang một cách tuyệt vọng cố gắng tìm kiếm tình yêu và bình an trong cuộc sống của họ và họ nhận ra đó là điều không thể được. Các con phải cầu nguyện hết lòng cho những con người này bởi vì nếu không có lời cầu nguyện của các con thì họ sẽ lao vào lửa hoả ngục. Đừng để điều này xảy ra. Nếu họ chỉ cần được khuyến khích bước một chút về phía Cha và sẵn sàng lắng nghe những lời của Cha thì họ sẽ có được những ân sủng để rồi Cha có thể đưa họ vào vòng tay của Cha.
Hỡi con gái của Cha, con người trên thế giới phải ngồi xuống ngay và chú ý đến Cha. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ chứng kiến một loạt các trận động đất và lũ lụt. Hỗn loạn sẽ xảy ra trong một số quốc gia, qua các thảm họa khí hậu. Đây là những hình phạt do Cha Ta giáng xuống trên nhân loại. Tội lỗi sẽ bị trừng phạt và những nước có tội trong việc thúc đẩy phá thai sẽ không thoát khỏi tay của Cha Ta khi Người giáng xuống. Lời cầu nguyện đã ngăn chặn nhiều hành động của sự trừng phạt tương tự như vậy, tuy nhiên con người vẫn tiếp tục phạm tội và xúc phạm đến Cha Ta với hành động hèn hạ và ghê tởm của con người chống lại con người kể cả đối với các trẻ em vô tội trong bụng mẹ.
Cha thúc giục các con cầu nguyện ngay lúc này vì con cái Cha ở các quốc gia này sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt. Cha Ta đang nổi giận. Người sẽ không khoanh tay đứng nhìn khi người ta tiêu diệt nhân loại. Trái đất sẽ nổ tung nếu con người không dừng lại. Người, Chúa Cha yêu dấu của Ta, sẽ hoãn lại nhiều hình phạt này mãi cho đến sau Cuộc Cảnh Báo. Sau đó, mặc dù sau đó con người hoán cải, thì con người sẽ vẫn tiếp tục quay về với tội lỗi. Các hình phạt được ban ra là để tỏ cho con người thấy Cha Ta có thể nghiêm khắc đến thế nào. Người yêu thương tất cả con cái của Người nhưng Người đã tạo dựng thế giới này và con người chỉ đơn giản là không được phép huỷ diệt thế giới.
Các con của Cha ơi, giờ đây hãy cầu nguyện cho tất cả các anh chị em của các con.
Chúa Giêsu Kitô
Vua của Nhân loại


Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

Thông điệp tình yêu dành cho tất cả môn đệ của Cha (08/06/2011)

Thông điệp tình yêu dành cho tất cả môn đệ của Cha (08/06/2011)

 


Thứ Tư ngày 8 tháng 6 năm 2011 lúc 9:00 tối
Con gái yêu dấu của Cha, hôm nay Cha vui mừng vì niềm tin được bộc lộ bởi các môn đệ yêu dấu của Cha trên toàn thế giới, những người đang lắng nghe lời kêu gọi của Cha thông qua các thông điệp này. Cha vui mừng vì đức tin sâu đậm được thể hiện bởi con cái yêu dấu của Cha trong một thế giới đang từ chối Cha.

Con cái yêu quý của Cha, những người tin vào Cha, đang mang đến cho Cha những giọt nước mắt hân hoan trong những lúc sầu buồn. Nếu không nhờ những người có lòng sùng kính sâu sắc đối với Cha thì Cha sẽ không được an ủi.
Các con cái Cha, những người yêu mến Cha phải lắng nghe Cha vào lúc này. Hãy để Cha ôm các con trong Vòng Tay của Cha và giải thích cho các con hiểu tầm quan trọng trong đức tin của các con. Đức tin của các con giống như một ngọn lửa không bao giờ tắt trong Thánh Tâm Cha. Nó có thể nhấp nháy hết lần này đến lần khác, nhưng Cha sẽ làm thấm nhuần dần trong các con sinh lực dồi dào để giữ cho ngọn lửa này luôn rực sáng. Các con cái Sự Sáng của Cha, các con sẽ huỷ diệt bóng tối nhưng các con phải đoàn kết lại với nhau nên một để chiến đấu chống lại Tên Phản Kitô.

Satan không thể giành chiến thắng vì điều này là không thể.
Hãy luôn hiểu rõ Sự Thật quan trọng này. Hắn, Tên Lừa Dối, không thể và sẽ không thắng nổi vì điều này là không thể được. Vì vậy, các con phải luôn luôn tin rằng Anh Sáng của Cha và của Chúa Cha Hằng Hữu Cha Ta sẽ không bao giờ suy giảm. Vì đó không phải là thứ Anh Sáng sẽ lụi tàn. 
Nhưng chính là bóng tối sẽ thu hút linh hồn đáng thương của những ai bị lôi kéo về phía nó. Những người con đáng thương lầm lạc đó đang ở trong Thánh Tâm Cha và cũng đáng giá đối với Cha như là các con vậy. Các con, con cái của Cha, cho dù các con ở trong bất kỳ gia đình nào, các con cũng phải theo dõi chăm sóc những anh chị em ương ngạnh bướng bỉnh của mình. Bất kể tội lỗi của họ có nghiêm trọng đến mức nào, các con cũng cũng đừng bao giờ xét đoán họ. Hãy đem họ đến với Cha. Hãy trò chuyện với họ. Hãy cầu nguyện Lòng Thương Xót của Cha cho họ để họ có thể được cứu thoát khỏi nanh vuốt của quỷ dữ vào lúc họ lìa đời.

Hãy hét vang từ những ngọn núi. Hãy nhắc nhở mọi người về Sự Thật. Hãy bỏ qua những lời chế nhạo. Nhưng khi giải thích cho con cái Cha về việc Cha yêu thương họ biết bao thì đừng áp đặt quan điểm của các con trên họ. Thay vào đó chỉ đơn giản giải thích rằng họ được tạo ra bởi Thiên Chúa Cha. Hãy nhắc bảo họ biết rằng Người đã sai Ta, Con Một yêu dấu của Người đến để cứu họ, để ban cho họ cơ hội sống một cuộc sống vĩnh hằng. Rồi sau đó hãy nói với họ rằng Cha yêu thương họ và Cha sánh bước với mỗi một người trong số họ từng phút giây trong ngày. Ngay cả khi Cha chứng kiến sự từ chối của họ và điều tàn ác mà họ gây cho người khác, Cha vẫn ở bên cạnh họ. Cha đang hy vọng họ sẽ trở lại với Cha và yêu cầu Cha giúp đỡ, vì khi họ làm như vậy, Cha sẽ ôm lấy họ trong nước mắt vui sướng và nhẹ nhõm. Hãy giúp Cha cứu những linh hồn quý giá đó. Đừng để cho Tên Lừa Dối đoạt lấy họ khỏi Cha. Họ là người cùng gia đình với các con, là gia đình của Cha. Chúng ta là một. Chỉ một linh hồn bị hư mất cũng là quá nhiều.
Cảm ơn các con, con cái yêu quý của Cha ở khắp mọi nơi. Hãy biết rằng giờ đây Cha đang ở cùng các con thông qua Chúa Thánh Thần trong sự Hiện Diện mạnh mẽ hơn hơn bất cứ lúc nào khác trong lịch sử. Hãy nắm lấy tay Cha và bước đi cùng Cha tới Thiền Đường Mới trên trái đất, nơi sẽ là ngôi nhà vinh quang của các con trong tương lai.
Đấng Cứu Độ yêu dấu của các con
Chúa Giêsu Kitô, Vua của Lòng Thương Xót

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

SỰ PHỤC QUỐC CỦA DÂN DO THÁI; DẤU CHỈ CẢNH BÁO NGÀY TRỞ LẠI CỦA ĐẤNG CỨU THẾ

SỰ PHỤC QUỐC CỦA DÂN DO THÁI; DẤU CHỈ CẢNH BÁO NGÀY TRỞ LẠI CỦA ĐẤNG CỨU THẾ
Lời tiên báo của tiên tri Isaia :
" Ðến ngày đó, Chúa Thượng sẽ lại giơ tay ra một lần nữa,để chuộc lấy phần sống sót của dân Người, phần sống sót ở Át-sua và Ai-cập, ở Pát-rốt và Cút,ở Ê-lam và Sin-a, ở Kha-mát và các hải đảo.Người sẽ phất cờ hiệu cho các dân tộc,và từ bốn phương thiên hạ,sẽ quy tụ những người Ít-ra-en biệt xứ,sẽ tập họp những người Giu-đa bị phân tán.(Is 11,11-12).
Trong lịch sử, người Do Thái đã một lần lưu lạc và hồi hương vào năm 538 trước CN. Đền thờ tại thành Giê-ru-sa-lem do vua Hê-rốt xây trong 46 năm, vô cùng tráng lệ, nhưng Chúa đã tiên báo rằng: "Anh em nhìn thấy tất cả những cái đó, phải không? Thầy bảo thật anh em: tại đây, sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào; tất cả đều sẽ bị phá đổ".(Mt 24,2). Sự thật đã xảy ra đúng như thế. Vào năm 67 sau CN, người Do Thái nổi dậy tại Palestine, hoàng đế La Mã lúc đó là Neron cử đại tướng Vespasian đem quân bao vây thành Giê-ru-sa-lem, vua Neron băng hà, sau đó tướng Vespasian được quân đội và Nghị viên suy tôn, trở về làm vua, để con là tướng Titus ở lại, thành bị vây trong 143 ngày thì thất thủ, hơn 600 ngàn người Do Thái bị giết, hàng ngàn người khác bị lưu đày, quân La Mã đốt thành, thiêu hủy đền thờ, vàng bọc trong tường đền thờ chảy ra, từng tảng đá bị cạy lên để tìm vàng, đền thờ bị san bằng đến nỗi không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá nào đúng như lời Chúa đã báo trước. Kể từ đó nước Do Thái bị xóa tên, người Do Thái lại lưu lạc khắp thế giới, "bốn góc đất". Nhưng dù lưu vong ở nước nào, họ cũng quần tụ lại với nhau thành những cộng đồng Do Thái chặt chẽ để bảo tồn văn hóa và tín ngưỡng. Từ thế kỷ 11, Palestine bị Thổ Nhỉ Kỳ cai trị, đến TK 14, triều đại Ottoman của Thổ chiếm hầu hết vùng bán đảo Balkan. Đến đầu TK 19, sau gần 19 thế kỷ, xuất hiện phong trào Si-ôn chủ trương tìm cách lập một mảnh đất dung thân tại Palestine cho người Do Thái. Khi đại tướng Anh là Allenby chiếm được Palestine trong thế chiến thứ nhất, dẫn đến một văn kiện do huân tước Balfour soạn thảo đã ghi như sau: “ Chính phủ Hoàng Gia ủng hộ việc tạo lập một lãnh thổ tại Palestine cho người Do Thái và sẽ dùng mọi nỗ lực để thực hiện mục tiêu này.” Sau gần 2 thập niên, dân Do Thái sống tại Palestine đã tăng nhanh. Năm 1882 trong 624.000 dân Palestine có 24.000 dân Do Thái, năm 1914 có 85.000, năm 1936 có 404.000 (năm 1948 lập quốc có 650.000 người Do Thái). Năm 1947, Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu (có 33 phiếu thuận, 10 phiếu chống, 10 phiếu vắng mặt) quyết định kế hoạch chia đất: Những vùng có dân Do Thái đông nhất ở Palestine sẽ được chỉ định thuộc người Do Thái, trong khi những vùng còn lại là của Jordan. Lập tức người Á Rập hình thành một kế hoạch tấn công Do Thái quy mô suốt 6 tháng, đến ngày 14/5/1948
Do Thái toàn thắng tuyên bố độc lập theo kết quả bỏ phiếu nửa năm trước của Liên Hiệp Quốc. Người Á Rập vẫn tuyên bố “tống khứ bọn Do Thái xuống Địa Trung Hải”, quân Á Rập từ Ai Cập, Jordan, Syria, Li- băng và Iraq tiến vào Palestine, nhưng bị đẩy lui và bị mất nhiều phần đất. Sau khi ngưng chiến, biên giới Do Thái mở rộng hơn, đến cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, thì Do Thái đã chiếm được hơn 12.000km2 đất đai, quan trọng nhất là cổ thành Giê-ru-sa-lem, bức tường than khóc và cả khu vực đền thờ. Thật khó tưởng tượng nổi một quốc gia đã bị xóa tên gần 19 thế kỷ, dân chúng tan lạc khắp “bốn góc đất” chịu nhiều đau thương thống khổ (bị Đức quốc Xã sát hại gần 6 triệu người trong các lò sát sinh), vậy mà họ vẫn tái lập được quốc gia, đúng như lời tiên tri đã ghi trong Kinh Thánh. Và đây cũng chính là một trong nhiều dấu hiệu, điềm báo trước về tận thế và ngày tái lâm của Chúa Giê-su đã gần kề.

Thật vậy, đây chỉ là một lời tiên tri trong số rất nhiều lời tiên tri báo trước ngày trở lại lần hai của Chúa Giesu. Nhìn vào thế giới chúng ta đang sống với biết bao thảm họa thiên tai động đất, những thảm họa chiến tranh có thể hủy diệt cả nhân loại. Đức Mẹ và Chúa Giêsu liên tục mặc khải cho chúng ta về những biến cố và mời gọi chúng ta ăn năn xám hối trước ngày trọng đại. Quả thật ngày Chúa quang lâm không ai biết trước, nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót Ngài báo trước cho chúng ta các dấu chỉ mà khi nhìn vào đó chúng ta biết được Ngày của Chúa rất gần rồi.
"Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó mềm ra và trổ lá, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy tất cả những điều đó, anh em hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi."(Mt 24,32-33)

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Thánh Therese De Los Andes (1900-1920)


"Từ thời thơ ấu tôi đã tìm kiếm hạnh phúc nhưng hiểu rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm tôi hoàn toàn hạnh phúc mãi mãi. Tôi mong ước hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa trong một cuộc sống dành riêng cho cầu nguyện và đền tội." St Teresa de Los Andes


Từ khi được sinh ra (1900) cho đến khi được rước lễ lần đầu tiên (1910)

Thánh Teresa de Los Andes được sinh ra ở Santiago, Chile vào ngày 13 tháng 7 năm 1900. Là người con thứ năm của ông bà don Miguel Fernández Jaraquemada và doña Lucía Solar Armstrong, Thánh có tên là Juanita lúc được rửa tội.

Gia đình của Juanita thuộc loại giàu có. Ông nội cô là người Tây Ban Nha. Ông ngoại cô, don Eulogio, sở hữu một cơ ngơi rất rộng lớn ở Chacabuco, khoảng 40 dặm về phía bắc Santiago, nơi mà ông ấy thường xuyên tụ họp gia đình lại.

Vào những dịp nghỉ, Juanita thường đi đến Chacabuco vì cô rất yêu thích nơi này. Cô đã học cưỡi ngựa rất sớm. Như là một nữ kỵ sĩ thứ thiệt, cô có thể cưỡi ngựa từ khu nhà ở đến khởi điểm tạiAndes.

Anh chị em của Juanita là: Lucita, Miguel, Luis (Lucho), Juana (qua đời vài giờ sau khi được sinh ra và tên được lấy để đặt cho Juanita), Rebeca va Ignacio. Juanita đặc biệt gần gũi với anh trai Lucho và em gái mà cô không thể rời xa là Rebeca.

Rất sớm, Juanita cảm thấy thu hút về với Thiên Chúa. Cô thích đi nhà thờ với Ofelia (cô hầu gái thường chăm sóc cô). Một ngày, đang khi ở Chacabuco, cô nắm tay một người bạn linh mục của gia đình và nói với ông: “Thưa cha, chúng ta hãy đi đến thiên đàng”.Khi họ ra khỏi nhà, vị linh mục hỏi cô: “Bây giờ, Juanita, đâu là con đường dẫn đến thiên đàng?”. Juanita đã trả lời: “Bằng cách này”, cô chỉ tay về hướng cordillera Andes. Vị Linh mục bảo cô: “ Sau khi leo lên nhưng ngọn núi cao, trời vẫn còn xa, rất xa. Không, Juanita, điều này không phải là con đường dẫn đến thiên đàng. Chúa Giêsu trong nhà tạm là con đường hoàng tộc để đi đến đó.”

Lúc bấy giờ, Juanita không dễ chịu chút nào. Cô tư phụ, không thích vâng lời, dễ dàng trở nên tức giận (anh em cô rất thích chọc cô tức giận) và khóc không đâu. Nhờ hồng ân Thiên Chúa, đặc biệt là qua Bí tích Thánh Thể, Juanita từng bước học khắc phục các khiếm khuyết của mình và kiểm soát bản thân.

Năm 1906, một trận động đất làm rung chuyển thành phố Santiago. Trong nhật ký của mình, Juanita đã viết rằng tại thời điểm này Chúa Giêsu bắt đầu chiếm hữu trái tim cô.

Ông ngoại của Juanita qua đời một cách thánh thiện vào năm 1907. Mẹ của Juanita, Doña Lucia, được thừa hưởng một phần của bất động sản Chacabuco được giao cho cha cô là Don Miguel quản lý. Cùng năm đó, Juanita vào trường học Sacred Heart ở Santiago, một trường học được điều hành bởi các nữ tu dòng Thánh Tâm Thánh Madeleine-Sophie Barat.

Anh trai Lucho đã dạy cho Juanita cách đọc kinh Mân Côi. Cả hai đều hứa đọc kinh Mân Côi mỗi ngày, một lời hứa mà Juanita giữ cho đến khi cô qua đời (cô viết là chỉ một lần là cô quên đọc lúc còn nhỏ). “Từ thời gian đó trở đi, có thể nói rằng Chúa của chúng ta đã nắm tay tôi với Đức Trinh Nữ rất Thánh.”

Nhanh chóng, Juanita cảm thấy một khát vọng lớn lao được rước lễ lần đầu. Cô thường hỏi khi nào cô có thể làm điều đó nhưng được cho biết rằng cô còn quá trẻ. Sau đó, cô yêu cầu được dạy để được rước lễ như mong muốn. Sau khi nài xin nhiều lần, Juanita được phép rước lễ lần đầu. Cô muốn chuẩn bị cho mình thông qua việc xưng tội và cầu nguyện, dâng lên Chúa Giêsu nhiều hy sinh nhỏ bé. “Tôi chuẩn bị cho bản thân mình trong một năm. Trong thời gian đó, Đức Trinh Nữ đã giúp tôi thanh lọc trái tim tôi từ tất cả những sự không hoàn hảo.” Cô đã rước lễ lần đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 1910 tại Santiago. Trong nhật ký của mình, cô đã viết về sự kiện này đã gây ấn tượng cho cô trong suốt cuộc đời. Cô sẽ cố gắng càng nhiều càng tốt để được rước lễ mỗi ngày.


Thuở nhỏ


Khi 18 tuổi

Từ khi được rước lễ đầu tiên cho đến khi gia nhập dòng Cát Minh (1919)

Năm 1914, lần đầu tiên Juanita đọc câu chuyện của một linh hồn của Thánh Têrêsa thành Lisieux (chưa được phong Chân phước). Trong nhiều năm, gần đến ngày 8 tháng 12, Juanita bị bệnh nặng. Năm 1914, cô có một cuộc phẫu thuật ruột thừa, một điều tế nhị và nguy hiễm tại thời điểm đó, hơn nữa vì Juanita không có một sức khỏe mạnh mẽ. Sau đó, cô nghe tiếng Chúa Kitô mời gọi cô hãy hiến dâng hoàn toàn cho Chúa để trở thành nữ tu dòng CátMinh. Trong năm 1915, cô trở thành học sinh nội trú với em gái Rebeca tại trường Trung học Thánh tâm. Cô rất đau khổ khi phải rời ngôi nhà gia đình vì cô rất yêu mến gia đình mình. Tuy nhiên, cô nhận thức rằng Chúa đang chuẩn bị cho cô về một cuộc chia ly lớn lao sau này khi cô gia nhập dòng Cát Minh. Thật vậy, cô đánh giá cao ngôi trường đã giúp cô sống một cuộc sống Kitô hữu nhiệt thành.

Cô bắt đầu viết nhật ký, nuôi dưỡng và củng cố đời sống tinh thần của mình qua lời cầu nguyện im lặng, đi lễ hàng ngày và qua sự hy sinh. Mặc dù không phải là học sinh đặc biệt, nhưng cô dốc tâm vào việc học, ngay cả những môn học mà cô không yêu thích (chẳng hạn môn Vật lý và Hóa học) để làm vui lòng Chúa Giêsu và cha mẹ. Cô cũng rất thích giúp những học sinh nghèo hoặc kém năng khiếu. Rât sớm, Juanita biểu lộ một tình yêu tuyệt vời dành cho người nghèo và giúp họ càng nhiều khi cô có thể. Cùng trong năm đó (1915), cô gặp trên đường phố một đứa trẻ rách rưới đói khát và run lẩy bẩy vì lạnh. Cô đem đứa trẻ về nhà mình, cho đứa trẻ ăn uống và hỏi nơi sinh sống của nó. Cô phát hiện rằng đứa trẻ đang sống trong một khu ổ chuột ở ngoại ô Santiago. Cô đã đến thăm gia đình đứa trẻ và cho đến khi cô gia nhập dòng CátMinh vào năm 1919 cô đã chăm sóc đứa trẻ, gọi nó là Juanito, cho nó ăn trong gia đình cô và cho nó quấn áo của các anh trai cô. Cô đã tổ chức một cuộc xổ số mà giải thưởng là chiếc đồng hồ của mình để kiếm tiền mua giày cho Juanito. Cô chăm lo đến việc giáo dục về nhân bản và công giáo cho đứa trẻ. Vào tháng 12 năm 1915, Juanita tự tuyên khấn lời thề về đức khiết tịnh, hứa là không có bất cứ ngưới phối ngẫu nào khác hơn ngoài Chúa Giêsu Kitô. Cô đã lập lại lời tuyên khấn này nhiều lần.

Juanita trải qua kỳ nghỉ của minh tại Chacabuco nơi cô thật sự làm công việc tông đồ giữa các gia đình nông dân, dạy giáo lý cho trẻ em, chơi với chúng, , tổ chức dàn hợp xướng, dâng hiến nhà cho Thánh Tâm. Cô có năng khiếu truyền cho trẻ em về chân lý đức tin. Do sự quản lý kém từ cha của Juanita mà cơ ngơi Chacabuco bị bán vào năm 1917 và gia đình Juanita phải thích nghi với cách sống giản đơn hơn. Trong khi gia đình cô thương tiếc về sự mất mát của Chacabuco thì Juanita thấy trong sự kiện đau buồn này một ơn gọi quan phòng để có thể tự tách mình ra khỏi vật chất trần gian. Vào ngày 15 tháng 6 năm 1917, Juanita trở thành con cái của Đức Maria và trọn đời ràng buộc mạnh mẽ về tinh thần với Đức Maria mà cô tín thác mọi việc. Cô đọc những tác phẩm tinh thần của nữ tu Elizabeth Chúa Ba Ngôi (nữ tu dòng Cát Minh người Pháp qua đời năm 1906 tại Dijon và sẽ được phong Chân phước vào năm 1984) mà cô khám phá ra mối quan hệ tâm linh vĩ đại. Cô cố gắng sống càng nhiều càng tốt trong sự hiện diện của Thiên Chúa mà cô hằng yêu mến ngày càng nhiều hơn. Cô nói với anh trai Lucho:”Anh muốn gì, Lucho, Chúa Kitô, Đấng khát khao tình yêu, làm em điên rồ”. Tháng chín năm 1917, cô viếng thăm lần đầu tiên dòng CátMinh ở Los Andes, xác tín nội tâm đây là nơi Thiên Chúa đang gọi cô.

Tháng tám năm 1918, Juanita rời trường Thánh Tâm để thay thế trong ngôi nhà gia đình chị gái Lucia vừa mới kết hôn. Cô tận tâm với công việc và chấp nhận mọi hy sinh vì hạnh phúc của gia đình cô: “Tôi không tin rằng cuộc sống gia đình là cuộc sống của những hy sinh. Điều này đã giúp tôi chuẩn bị cho bản thân mình một cuộc sống tôn giáo”. Anh trai Lucho sẽ nói rằng cô là”viên ngọc của gia đình”. Juanita viết trong nhật ký của cô:” Tôi phải phấn đấu để tìm kiếm hạnh phục của tất cả. Quyết tâm của tôi là hy sinh bản thân mình cho tất cả”.

Trong khi có đời sống tinh thần mãnh liệt, Juanita sống như một cô gái trẻ vào thời đại của cô. Cô thích ở với gia đình và bạn bè của cô. Cô rất thích thể thao, đặc biệt là bơi lội (cô xuất sắc về môn này) và quần vợt mà cô phát hiện ra với sự nhiệt tình. Cô thích vẻ đẹp của biển và núi. Con người và siêu nhiên tạo dựng trong cô một sự tổng hợp ngày càng hài hòa: cô chiêm niệm rất sâu sắc về màu nhiệm Thiên Chúa trong lời cầu nguyện im lặng, trong khi cô vẫn tự nhiên, tử tế và vui vẻ với bạn bè cô. Mặc dù cô phải thường xuyên chịu đựng vì sức khỏe yếu kém của mình và vì những thanh lọc tinh thần trong trái tim cô đến từ ân sủng của Thiên Chúa, Juanita vẫn vui vẻ và thích đùa.

Tháng 1 năm 1919, cô viếng thăm lần đầu tiên dòng Cát Minh ở Los Andes. Ở đó, cô nhận ra nhận đó là nơi mà Thiên Chúa đang gọi cô.

Ngày 25 tháng 3 năm 1019, cô viết một lá thư tuyệt vời gửi cha cô để xin phép gia nhập dòng Cát Minh, nói với cha cô rằng từ thời thơ ấu cô đã tìm kiếm hạnh phúc nhưng hiểu rằng chỉ có Thiên Chúa mói có thể làm cô hoàn toàn hạnh phúc mãi mãi. Cô mong ước hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa trong một cuộc sống dành riêng cho cầu nguyện và đền tội. Cha cô xúc động sâu sắc, tràn đầy nước mắt, bằng lòng cho cô gia nhập dòng. Sau đó, cùng thời điểm đó, Juanita cảm thấy trong trái tim cô niềm vui lẫn niềm đau khổ lớn nhất: vui bởi vì cô sẽ dâng hiến hoàn toàn đời mình cho Chúa Kitô, người đã thu hút cô rât nhiều, đau khổ vì cô sẽ phải rời mái ấm gia đình mà cô rất yêu thương và sẽ phải chịu đựng rất nhiều từ sự chia ly này.

Ngày 7 tháng 5 năm 1919, cô gia nhập dòng CátMinh ở Los Andes và lấy tên là Teresa de Jesus.

11 tháng trong dòng Cát Minh ở Los Andes (1919 – 1920)

Gia nhập dòng CátMinh vào ngày 7 tháng 5 năm 1919, Teresa bắt đầu bước đầu tiên của cuộc sống tu trì. Cô tận hưởng trong trái tim cô một niềm vui sâu sắc được hiến dâng hoàn toàn bản thân mình cho Thiên Chúa, từ bỏ những gì thân yêu nhất của mình (gia đình cô) để theo Chúa Kitô. Ngay từ đầu, cô phấn đấu để thực hiện các quy tắc của dòng Cát Minh với sự hoàn hảo, trung thực và yêu thương, chu toàn những công việc khiêm tốn và khó chịu nhất. Cô nghĩ rằng cuộc sống dòng Cát Minh bao gồm ba điều: tình yêu, sự đau khổ và cầu nguyện cho sự hối cải của những tội nhân, sự thánh hoá các linh mục và Giáo hội.

Với sự cho phép của nữ viện trưởng - người hiểu rằng nữ tập sinh mới là một linh hồn đặc biệt, Teresa có một hoạt động biên thư mãnh liệt. Những bức thư của cô viết toát lên tình yêu Chúa Kitô và niềm vui hoàn toàn thuộc về Ngài. Cảm động bởi chứng nhân như cô, một số bạn bè của cô sẽ gia nhập vào cuộc sống tôn giáo.

Ngày 8 thang 9 năm 1919, Teresa được chấp nhận vào nhà tập và tiếp nhận áo dòng. Cô nhận được áo dòng ngày 14 tháng 10 năm 1919, trước sự hiện diện của gia đình cô và nhiều bạn bè. Tất cả những người chứng kiến bị ấn tượng bởi niềm vui tỏa ra từ cô.

Trong tu viện, Teresa nhận được nhiều ân sủng hiệp thông với Thiên Chúa, mặc dầu cô không tránh khỏi những thử thách về tinh thần, đặc biệt là những cám dỗ và sự khô héo về tinh thần. Cô có một mối quan hệ đặc biệt với nữ viện trưởng, nhưng phụ tá của Ngài là người phụ trách về nhà tập làm cô đau khổ nhiều bởi liên tục sửa sai cô.

Những ngày đầu tiên của tháng 3 năm 1920, Teresa nói với cha giải tội rằng cô chỉ có một tháng để sống trên đời. Cô xin phép cha cho cô làm những việc đền tội bất thường. Cha giải tội không thể tin cô được (làm sao cô có thể biết được thời gian cô qua đời?) và bảo cô hãy bẳng lòng với việc tuân thủ quy tắc dòng CátMinh một cách hoàn hảo.

Teresa bị một căn bệnh hành hạ mà cô biết sẽ dẫn cô đến sự chết. Tuy nhiên, cô thực hành tất cả các bài tập tinh thần của Mùa chay năm đó, bao gồm cả việc ăn chay nghiêm ngặt.

Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, 2 tháng tư năm 1920, Teresa bắt đầu con đường của thập giá theo Chúa Kitô. Cô dành nhiều giờ cầu nguyện ở chỗ đội đồng ca. Các chị em nhận thấy rằng cô bị sốt cao và khuyên cô hảy đi ngủ.

Vài bác sĩ khám bệnh cho cô mà không nghĩ đến việc làm hạ cơn sốt đang giày vò cô. Chẩn đoán của các bác sĩ là cô bị bệnh sốt phát ban cấp cao.

Ngày 7 tháng 4, Teresa có được niềm vui khi đọc những lời tuyên khấn dòng của cô. Theo phong tục, một tập sinh khi gặp nguy hiểm cận kề cái chết có thể đọc lời tuyên khấn của mình (tuy nhiên, nếu tập sinh này bình phục, cô phải trở về nhà tập sự).

Sau những đau đớn về thể xác và tinh thần lớn lao, Teresa phó thác linh hồn cô cho Thiên Chúa và qua đời vào ngày 12 tháng 4 năm 1920, lúc 7:15 tối. “Đồi với một nữ tu dòng CátMinh, sự chết không là gi???. Cô ấy sẽ đi vào sự sống đời đời, để rơi vào vòng tay của một Đấng mà cô yêu thương trên hết mọi sự trên đời, để được mãi mãi đắm chìm trong tình yêu thiêng liêng.”
Tượng thánh được đặt trước ngôi mộ
Đám tang của cô được tổ chức vào ngày 14 tháng 4. Các chị em nữ tu và gia đình cô ngạc nhiên khi thấy nhà nguyện của dòng tràn đầy dòng người đến để tôn kính vị Thánh nhỏ vừa mới qua đời mặc dù họ không được biết đến Teresa, như họ nói. Vì vậy, hương thơm thánh thiện và danh tiếng của Teresa có được trong lúc này sẽ được lan tỏa nhanh trong những năm tiếp theo. Các nữ tu dòng CátMinh nhanh chóng nhận được những chứng tích đến từ những người đã nhận được ân sủng qua lời cầu bầu của Thánh Teresa de Los Andes.

Ngày 23 tháng 11 năm 1920, cô em gái của Teresa là Rebeca, gia nhập dòng Cát Minh ở Los Andes, tin rằng Thiên Chúa đang kêu gọi cô để thay thế chị gái cô trong nhà dòng. Cô sẽ dũng cảm theo bước chân của Teresa cho đến khi cô qua đời thánh thiện vào năm 1942.



Đức GP II đã tôn phong thánh nhân


Tác giả bài viết: Giuse Huỳnh Đỗ Minh Hiếu, dịch 
Nguồn: www.teresadelosandes.org
----------------------


Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

Thánh Ca | Hãy Trở Về - Lm. JB Nguyễn Sang


Thánh Ca | Hãy Trở Về - Lm. JB Nguyễn Sang
Sáng tác: Ngọc Kôn


 





Bao năm trôi qua hồn con lạc bước đi xa
Quên bao ơn Cha trầm kha bể đắm bao la
Nay con ăn năn
Hồi tâm thống hối bao lỗi lầm
Đền bù bất xứng bao năm
Quyết tâm trở về Cha lành

Hãy trở về, trở về với Cha nhân lành
Hãy trở về, trở về để sớm hồi sinh
Hãy trở về, trở về sống trong an bình
Trở về, trở về để mãi sống trong ân tình

Xin Cha tha cho hồn con lỡ bước hoen nhơ
Tim Cha bao dung hồn tội lụy chẳng bơ vơ
Tin ơn dung tha
Lòng con quên hết bao lo sợ
Tìm về nương bóng bên Cha
Trái tim nhân hậu vô bờ


Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

SỐNG TRONG THINH LẶNG Trích Sách Bí Quyết Sống của Mẹ Têrêsa thành Calcutta (1910- 1997)

Phần V. SỐNG TRONG THINH LẶNG

    "Hãy dừng lại trong thinh lặng và chúng con sẽ nhận biết Ta là Thiên Chúa" ( TV 46,11).
Nếu chúng ta thật lòng muốn cầu nguyện, thì trước hết chúng ta cần học biết lắng nghe, bởi vì Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Và để có thể cảm nghiệm được sự thinh lặng nầy, để có thể lắng nghe Thiên Chúa nói, chúng ta cần có tâm hồn trong sạch, bởi vì con tim trong sạch có thể nhìn thấy Thiên Chúa, cảm nghiệm Thiên Chúa và lắng nghe Ngài.
Khi cầu nguyện trở nên khó khăn, thì chúng ta cần phải giúp mình cầu nguyện. Và phương thế đầu tiên mà chúng ta phải xử dụng là sự thinh lặng, bởi vì những tâm hồn cầu nguyện là những tâm hồn sống trong thinh lặng sâu xa. Chúng ta không thể nào đặt mình trong sự hiện diện trực tiếp của Thiên Chúa, nếu chúng ta không có thói quen giữ thinh lặng trong tâm hồn và bên ngoài quanh chúng ta.

Thiên Chúa là người bạn của sự thinh lặng.
Chúng ta hãy tôn thờ Chúa Giêsu trong tâm hồn chúng ta. Ngài đã sống thinh lặng trong thời gian 30 năm trong số 33 năm sống trên trần gian nầy. Ngài đã bắt đầu cuộc đời công khai bằng 40 ngày sống trong thinh lặng. Ngài thường tách mình ra để qua suốt đêm trong thinh lặng, trên núi vắng. Ngài đã rao giảng với uy quyền, nhưng sống suốt cuộc đời trong thinh lặng. Chúng ta hãy tôn thờ Chúa Giêsu trong thinh lặng của Bí Tích Thánh Thể.

Chúng ta cần phải gặp Thiên Chúa, và chúng ta không thể gặp ngài trong ồn ào và trong lộn xộn. Hãy nhìn xem thiên nhiên, cây cỏ, hoa lá: chúng lớn lên trong thinh lặng hoàn toàn. Hãy nhìn ngắm các vì sao, mặt trăng, mặt trời, tất cả di chuyển trong thinh lặng. Thử hỏi sứ mạng của chúng ta không phải là trao ban Thiên Chúa cho những anh chị em nghèo cùng nhất trong xã hội hay sao? Không phải là một Thiên Chúa chết khô, nhưng là một vì Thiên Chúa sống động và yêu thương con người. Chúng ta càng lảnh nhận trong lời cầu nguyện trong thinh lặng, thì chúng ta càng có thể cho đi, trong đời sống hoạt động của chúng ta.

Sự thinh lặng cho chúng ta một cách thức mới để nhìn các sự vật. Chúng ta cần thinh lặng để thành công chạm đến các linh hồn. Ðiều thiết yếu không phải là điều chúng ta nói ra, nhưng là điều mà Thiên Chúa nói với chúng ra và qua chúng ta. Chúa Giêsu luôn luôn hiện diện ở đó và ngài chờ đợi chúng ta trong thinh lặng. Trong thinh lặng, Ngài sẽ lắng nghe chúng ta, và trong thinh lặng, Ngài sẽ nói với linh hồn chúng ta; trong thinh lặng chúng ta sẽ nghe được tiếng ngài. Thật là khó, để giữ thinh lặng trong chúng ta, nhưng chúng ta phải cố gắng cho được. Trong thinh lặng, chúng ta sẽ gặp được năng lực mới và sự kết hiệp thật sự với Chúa. Sức mạnh của Thiên Chúa sẽ là sức mạnh cho chúng ta, để làm tốt mọi sự; sự kết hiệp những tư tưởng của chúng ta với những tư tưởng của Chúa, sự kết hiệp những lời cầu nguyện của chúng ta với những lời cầu nguyện của Chúa, sự kết hiệp những hành động của chúng ta với những hành động của Chúa, sự kết hiệp đời sống chúng ta với đời sống của Chúa, những sự kết hiệp nầy chúng ta sẽ gặp được trong thinh lặng. Tất cả những lời nói của chúng ta sẽ trở nên vô ích, nếu chúng không đến từ bên trong: những lời nói nào không trao ban ánh sáng của Chúa Kitô, thì làm gia tăng bóng tối. (Mẹ Têrêsa Calcutta)
      Ðó là những chia sẻ của Mẹ Têrêsa. Và những cộng tác viên sống bên cạnh Mẹ đã thấy rõ Mẹ Têrêsa đã sống những gì Mẹ chia sẽ và làm chứng thêm như sau:
    Việc cầu nguyện nội tâm và sự chiêm niệm là sự đáp trả tình yêu thương của Thiên Chúa. Cầu nguyện và chiêm niệm không phát sinh từ những cố gắng của chúng ta để hành động, hay từ những lo lắng của chúng ta, nhưng từ kinh nhgiệm sâu xa về tình yêu Chúa. Thánh Gioan đã nói rõ ràng về điểm nầy như sau: Tình yêu thương hệ tại ở điều nầy: "không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đãû yêu thương chúng ta". Trong thinh lặng của tâm hồn, tình yêu thương nầy là như một lời mời gọi luôn có sức sáng tạo. Nó khơi dậy một sự đáp trả, một thôi thúc nội tâm đưa linh hồn đến với Thiên Chúa,và khơi dậy một năng lực. Ðây là năng lực làm cho Mẹ Teresa và những nguời khác như Mẹ có thể hòa hợp đời sống cầu nguyện với đời hoạt động. Nếp sống nầy tùy thuộc hoàn toàn vào nếp sống kia. Những hoạt động ngoại thường của Mẹ múc lấy sự hiệu nghiệm của chúng từ sự thinh lặng mở rộng hướng về Thiên Chúa, hướng vể việc lắng nghe. (Mẹ Têrêsa Calcutta)




      Lạy Chúa, xin hãy làm cho chúng con hiểu rằng, giống như sự kỳ diệu của những vì sao trên trời được biểu lộ chỉ trong thinh lặng mà thôi, thì củng thế, sự kỳ diệu của Thiên Chúa chỉ được mạc khải trong sự thinh lặng của linh hồn; Xin Chúa giúp chúng con hiểu rằng trong thinh lặng của con tim, chúng con có thể nhìn thấy những trang sách của trọn cả vũ trụ được Tình Yêu Chúa giữ chung lại với nhau. Lạy Chúa, xin giúp con gặp được Chúa trong thinh lặng. Amen.

      Link: tại đây

      Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

      Thaănh Ca: KHÚC CẢM TẠ


      Thánh Ca | Khúc Cảm Tạ - 
      Lm. JB Nguyễn Sang

      Lời 1: Khúc cảm tạ từ đó âm ba vọng ngân, rộn rã trong tim ngày đêm, tán dương Tình Yêu Thiên Chúa. Suất một đời con tắm mát trong tình Cha, giữa trưa sa mạc cháy da, Chúa như nguồn nước chan hòa.

      ĐK: Xin dâng lên Chúa tiếng yêu ngọt ngào. Nguyện ghi nhớ thánh ân Ngài trao. Nguyện theo chân Chúa đi qua. Đồi Ta-bo hay thập giá. Ôi Tình Yêu Chúa mênh mang trần đời. Tình yêu Chúa bao la trùng khơi. Thuyền hồn con mãi êm trôi. Hưởng Tình Yêu ôi tuyệt vời.

      Lời 2: Tiếng gọi nào rộn rã vang trong chiều mơ, vồn vã cánh tay Ngài đưa, dắt con vào miền thương nhớ. Chén rượu đào Ngài chuốc chứa chan ngày nao, bánh thơm ân huệ Chúa trao, tháng năm tình mến dâng trào.

      Lời 3: Đến đời đời Ngài vẫn yêu con mà thôi, Ngài vẫn yêu con chẳng nguôi, dẫu cho trần gian tan biến. Chúa là nguồn hạnh phúc mến yêu của con, có chi hơn được Chúa thương, thế gian thành cõi thiên đường.

      Lời 4: Nếu ngày nào Ngài lãng quên con một giây, lạy Chúa cho con giờ đây, trút linh hồn trong tay Chúa. Nếu ngày nào trần thế khiến con mải mê, Chúa ơi xin đừng chối chê, hãy thương dìu bước con về.