Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Thư Ngỏ Của Anh Thomas Maria Job Việt (10) & ( 9)

Thư Ngỏ Của Anh Thomas Maria Job Việt (10)

THƯ NGỎ CỦA ANH THOMAS MARIA JOB VIỆT (10)
LTS: Anh Việt có 2 cha linh hướng là Lm Ngô Mính Thúy, Dòng Biển Đức Thiên Phước và một cha linh hướng thứ hai là cha quản hạt vùng Thủ Thiêm. (KH)

Từ thuở rất xa xôi, chưa có trời đất đã có tình yêu, tình yêu ấy chính là Thiên Chúa. Từ khi chưa có vạn vật và con người đã có Thiên Chúa. Thiên Chúa cao cả nhất của vũ trụ bao la, một vũ trụ không có bờ bến, một vũ trụ được hình thành bởi trái tim nhân hậu của Thiên Chúa. Ngài đã lấy hình ảnh trái tim nhân hậu để làm ra một vũ trụ mênh mông bao la và con người vạn vật.


Sau đó Ngài lấy sự khiêm nhường, tự hạ, yêu thương để cai quản vũ trụ con người và vạn vật. Sự hình thành ấy được tái xuất phát bởi trái tim nhân hậu của Ngài. Ngài là Thiên Chúa, là Chúa tể của vũ trụ, không có quyền lực nào lớn hơn Ngài. Bởi vì quyền năng của Ngài thật vô biên vô tận và nước Ngài sẽ không bao giờ cùng. Ngài đã tạo thành ra một vũ trụ bao la mà con người không thể nào đi hết nhưng Ngài cũng tạo ra các sinh vật hết sức bé nhỏ, bé nhỏ đến nỗi mắt thường của con người không thể nhìn thấy được sự việc này. Ngài muốn chứng tỏ cho chúng ta thấy Ngài là một Thiên Chúa cao cả nhất, quyền năng nhất, sáng tạo nhất. Nhưng sau đó Ngài cũng tự hạ mình đơn sơ nhất, khiêm hạ nhất bé nhỏ nhất, khó nghèo nhất, đau khổ nhất và yêu thương nhất. Ngài đã từng yên ủi con người rằng: Các con hãy xem Cha đây là một người Cha, một người tình, một người bạn:

I. Một người Cha ( là ngôi thứ nhất): là Chúa cao cả và là người Cha nhân hậu.

II. Một người tình ( là ngôi thứ hai): là Chúa Giêsu đấng vì tình yêu, Ngài đã hiến mạng sống mình vì yêu thương nhân loại. Ngài vẫn đang hiện diện và sống ở giữa mỗi một con người.


III. Một người bạn ( là ngôi thứ ba): Người bạn đó không thể tách rời giữa con người đó là ngôi thứ ba Chúa Thánh Thần bởi Ngài từ thần khí Thiên Chúa mà ra. Ngài là tâm điểm của vũ trụ, thần khí Ngài là tâm điểm của vũ trụ, thần khí của Ngài luôn hoạt động trong mỗi một con Người, trong mỗi sinh vật nghĩa là trong tất cả vũ trụ. Ngài đã làm cho tất cả vạn vật được có sự sống nhất là trong mỗi con người tâm điểm chính là ở trí não, còn  được gọi là sự khôn ngoan nhân tính, cảm nghiệm cho nên sự hình thành một vũ trụ và sự sống ấy được tồn tại là bởi Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống cho vũ trụ và con người.


NHẬN BIẾT ĐƯỢC MẦU NHIỆM CỦA THIÊN CHÚA LÀ NHỜ ƠN KHÔN NGOAN TỪ CHÚA THÁNH THẦN

Con người không thể nào khôn ngoan hơn Thiên Chúa và sức mạnh con người đối với Thiên Chúa không có là gì. Bởi vì sự không của Thiên Chúa vượt trội hơn tất cả mọi sự khôn ngoan của con người, nghĩa là con người không thể tưởng tượng và hình dung ra được sự khôn ngoan của Thiên Chúa là trọng tâm của ba mầu nhiệm được hình thành.

1. Tình yêu muôn thuở và lòng nhân hậu.
2. Giao hòa, phục vụ không tính toán.
3. Dịu dàng tự hạ, không ngừng ban phát.

Trong hơn 1 thế kỷ trở lại đây Thiên Chúa có phần ưu ái cho con người hơn. Ngài không ngừng ban tặng sự khôn ngoan của Ngài cho con người đó là nền khoa học. Khoa học được nâng lên tầm cao mới nhưng khi con người nhận được sự khôn ngoan ấy thì chính Satan lại xen vào làm cho con người nổi lên lòng kiêu ngạo. Satan bắt đầu “mượn gió bẻ măng” chúng gieo vào lòng con người biết bao là mầm móng tội lỗi, con người đã mang lấy sự khôn ngoan của Thiên Chúa không những phục vụ cho Thiên Chúa mà lại phục vụ cho sự kiêu ngạo của Satan. Cố tình chống đối lại với Thiên Chúa như một lời thách thức và sẵn sàng chối bỏ loại Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của họ. Không có tình yêu thì tất nhiên phải có sự dữ, không có tình yêu thì muôn vàn tội lỗi sẽ được phát xuất, con người đã đánh mất hết lòng tin nơi Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa vẫn không loại trừ con người, mà con người đã cố tình loại trừ Thiên Chúa: “Mất Thiên Chúa là mất tất cả” và tội lỗi bắt đầu xảy ra trên khắp địa cầu, chúng không trừ một ai và con người tự đưa mình vào ngõ cụt mà không có lối ra, nhưng nhân loại đâu biết mình đã đi vào ngõ cụt. Tại vì sao mà con người không nhận ra được điều này…? Đó là con người mất hết ơn khôn ngoan của Thiên Chúa, đánh mất thần khí, nhân trí từ sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong mỗi con người. Nhân loại hôm nay cũng đã thừa biết rằng rồi đây tương lai của thế giới rồi sẽ không biết ra sao đây. Sự biến đổi khí hậu là vấn nạn lớn nhất của con người nó sẽ kéo theo không biết bao nhiêu sự hủy diệt, và chính sự hủy diệt ấy là do con người tự gây ra để hủy diệt chính mình.

THIÊN CHÚA NHÂN TỪ NGƯỜI CHA CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Gần 100 năm qua, kể từ khi sự phát triển của nền khoa học công nghệ bắt đầu bùng nổ thì còn người cũng không ngừng phát sinh ra sự kiêu ngạo, kéo theo biết bao là sự dữ càng lan rộng bấy nhiêu. Nhưng Thiên Chúa vẫn luôn luôn tha thứ và mời gọi con người chạy đến với lòng nhân hậu và bao dung của Thiên Chúa. Thánh ý của Ngài chỉ đến với lòng thương xót vô biên vô tận, sự kiêu ngạo và tội lỗi của con người cao lớn bao nhiêu thì lòng thương xót của Chúa như mây ngàn phủ lấp bấy nhiêu khi con người tưởng rằng họ đã vượt qua ranh giới của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa vẫn biến mình khiêm nhường, tự hạ để tha thứ cho tất cả con người nhưng lòng dạ con người vẫn cứ chai đá và không coi Chúa ra gì.

Năm 1917, từ trời cao Thiên Chúa thấy tội lỗi con người càng ngày càng có dấu hiệu lan rộng khắp địa cầu. Chính Ngài đã sai Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa đến với nhân loại qua 3 em nhỏ tại một ngọn đồi Côva, làng Fatima (Bồ Đào Nha). Đức Trinh Nữ Maria đã thay mặt Thiên Chúa để dạy dỗ loài người, Mẹ đã cấp báo cho con người phải sớm thức tỉnh thay đổi lối sống sám hối và yêu mến Thiên Chúa. Biện pháp cứu nguy cho nhân loại hữu hiệu nhất chính là “Lần Chuỗi Mân Côi” tôn sùng thánh tâm Đức Mẹ, Mẹ hứa: Ngài sẽ biến đổi thế giới và làm cho một số nước chống đối sẽ được ơn trở lại.

20 năm sau đích thân Chúa Giêsu đã hiện đến với chị Thánh Faustina, tại Ba Lan. Ngài nhờ chị đi loan báo cho hết thảy mọi người chạy đến trái tim nhân hậu của Chúa, để nhờ đó lòng thương xót vô biên vô tận của Chúa sẽ được tuôn đổ xuống trên khắp địa cầu. Chúa mong mỗi loài Người phải biết vững đức tin tín thác vào lòng thương xót của Chúa luôn, tuôn đổ cho nhân loại.


Từ năm 1940 cho đến nay, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra rất nhiều nơi trên khắp thế giới ước tính không dưới 300 điểm. Nhưng có điều rất lạ là những người được nhìn thấy Đức Mẹ hoặc được Đức Mẹ ban thông điệp đều là những kẻ hèn mọn, ngu dốt quê mùa và bệnh tật khốn khó. Tại sao Ngài không hiện đến với những con người  thông thái khôn ngoan, quyền chức giàu sang danh vọng, mà lại hiện đến với con người bần cùng trong xã hội…?  Chương trình này không nằm ngoài tình yêu và lòng thương xót vô biên của Chúa, và thế chính ngài vẫn tỏ ra cho chúng ta biết chính Mẹ Maria là niềm hi vọng của mỗi một con người trong thế giới hôm nay, mà nhất là Ngài luôn luôn hiện diện trong những con người nghèo khổ, bất hạnh bị xã hội ruồng bỏ khinh chê.

Từ khi thế giới chuyển sang nền khoa học hiện đại, văn minh và phát triển thì con người cho rằng quyền lực danh vọng của cải vật chất là chỗ nương tựa vững chắc hơn bao giờ hết, chính vì thế mà quyền lực con người đã nảy sinh ra biết bao nhiêu tội ác. Tiền bạc, của cải, vật chất có thể đổi lấy tính mạng con người trong phút chốc. Biết bao nhiêu người nghèo khổ bất hạnh tuyệt vọng, lo âu và bị đẩy vào bước đường cùng nhưng Thiên Chúa làm người. Ngài vẫn không ngừng cảm hóa và đồng hành với những con người bất hạnh và tuyệt vọng, dẫu cho trời đất này có qua đi nhưng lời của Chúa vẫn không bao giờ thay đổi những lời chúc phúc của Thiên Chúa đã chứng minh cho chúng ta thấy:

1. Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó.
2. Phúc cho anh em là những kẻ hiền lành.
3. Phúc cho anh em là những người sầu khổ.
4. Phúc cho anh em là khát khao nên người sống công chính
5. Phúc cho anh em là có tâm hồn trong sạch.
6. Phúc cho anh em là có lòng thương xót.
7. Phúc cho anh em là đi xây dựng hòa bình.
8. Phúc cho anh em là bị bách hại vì lẽ công chính
(Mt.5.1.10) 

Thiên Chúa là đấng giàu lòng nhân hậu và thương xót, Ngài luôn luôn đứng về phía những con người nghèo khổ bất hạnh và bị bỏ rơi. Chính những kẻ không ra gì họ sẽ được thần khí bao phủ, họ sẽ đứng dậy đi làm ngôn sứ , họ được nói tiên tri, họ chính là sứ giả của Thiên Chúa và Đức Mẹ, họ sẽ bị bách hại sẽ bị loại trừ và sẽ bị giết chết. Chính từ những cái chết ấy máu các Ngài sẽ đổ ra để chứng minh sự thật cho chân lý nhờ đó mà chính những con người bách hại sẽ được thức tỉnh họ sẽ nhận ra được chân lý nơi Chúa Giêsu Kitô.


TA ĐẾN ĐỂ KÊU GỌI NHỮNG NGƯỜI TỘI LỖI
(Đức Mẹ) trong thế kỷ 20, Đức Mẹ đã hiện ra rất nhiều nơi trên toàn thế giới. Mỗi lần hiện ra dù bất cứ nơi nào công chính hay tội lỗi cao sang hay nghèo khổ, Đức Mẹ luôn luôn nhắc nhở và mời gọi con người phải luôn luôn thức tỉnh và cầu nguyện, mà phải cầu nguyện nhiều cho người tội lỗi. Hãy sống biết vâng lời và tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa.

Ngày 22 tháng 09 năm 2011, Đức Mẹ đã nói rõ ràng với anh Thomas rằng: “Hãy chạy đến với lòng nhân từ của Thiên Chúa, cho dù các con có là những kẻ công chính đi chăng nữa thì cũng đừng nghĩ mình là kẻ công chính. Nhưng hãy đến với Chúa như một tội nhân, có như thế thì các tội nhân trên thế giới mới được ơn tha tội. Nếu các con nghĩ mình là kẻ công chính thì các con chỉnh là kẻ tội lỗi và đáng thương hơn bao giờ hết”.  


        (TĐ.22.09.2010)

Đức Mẹ luôn luôn nhắc nhở và mời gọi con người hãy siêng năng lần chuổi Mân Côi, hướng tâm về Chúa mọi lúc mọi nơi, nếu không các con sẽ bị diệt vong và sẽ lãnh hậu quả tai họa sẽ xảy đến cho nhân loại không biết lúc nào. (TĐ.07.12.2010) có thể nói rằng: rất nhiều và rất nhiều Mẹ nhân loại luôn luôn mời gọi con người thức tỉnh cầu nguyện cho thế giới bằng cách “siêng năng lần chuỗi Mân Côi cách sùng kính thánh tâm Chúa Giêsu để được ơn tha tội, hướng tâm về Chúa sống bác ái, và yêu thương hết thảy mọi người. Hãy chạy đến với Chúa như một tội nhân đừng nghĩ mình là người công chính có như thế thì thế giới mới được ơn tha tội. Mẹ luôn luôn nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nếu như các con nghĩ mình là kẻ công chính thì chính các con là kẻ tội lỗi”.

Ngày nay trên thế giới mà ngay cả trong Giáo Hội con người, ngày càng có xu hướng cố tình làm trái thánh ý của Thiên Chúa người ta tự ý tách ra từng một cộng đồng rồi thành lập cho những lề luật của Thiên Chúa và Giáo Hội. Người ta tự bầu chọn lẫn nhau và đưa ra những lề luật rất kỳ lạ, ai ai cũng tự cho mình là người công chính, và làn sóng kiêu ngạo bắt đầu nổi lên ngày càng nhiều, phát sinh và kéo theo biết bao nhiêu là hậu quả người ta không cần đến nhà thờ để đọc kinh cầu nguyện ai ai cũng cho mình là đạo đức thánh thiện, được nói chuyện với Chúa, được thấy Chúa rồi viết ra những thông điệp kỳ lạ và cho đó là lời Chúa. Đây là một vấn nạn hết sức đau lòng, bởi vì Chúa luôn luôn nói với con người rằng: Ngài không ở đâu xa xôi cả, mà ngay chính ở trong mỗi một con người của chúng ta. Như vậy chúng ta ai ai cũng có thể được gặp gỡ với Chúa mỗi ngày mà nhất là trong mỗi anh chị em của chúng ta, không phận biệt địa vị, sang giàu nơi bàn tiệc Thánh Thể. Nơi hiệp nhất với nhau cầu nguyện, nơi thăm hỏi những bệnh nhân đau yếu, tù đày, bất hạnh cô đơn và bị bỏ rơi.

Ngày 22 tháng 02 năm 2012 Đức Trinh Nữ Maria đã nói: “yêu thương và phục vụ anh em là các con đã thể hiện lòng yêu mến Thiên Chúa”. “Sống biết vâng lời và tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa là thể hiện một tâm hồn con thảo”.
Ngày nay trên thế giới đâu đâu cũng ngập tràn làn sóng tội lỗi bởi vì tội lỗi là quyền lực tối cao nhất của Satan, kiêu ngạo là trọng tâm của tội lỗi Đức Mẹ biết trước điều đó nên Mẹ thường gọi con người phải hết sức khiêm nhường tự hạ nghèo khó, khiêm nhường tự hạ là môt thành trì vững chắc để ngăn chặn làn sóng của tội lỗi. Tội lỗi là một thảm họa khủng khiếp cho loài người nó không loại trừ một ai mọi lúc mọi nơi, nhưng khi con người biết biến đổi những tội lỗi được trở thành những tinh hoa cho Thiên Chúa và cho mỗi một con người thì viêc làm này không có gì đánh đổi được như những tinh hoa cho Thiên Chúa và cho mỗi một con người.

(Thánh Giá) “Thập giá là cây khổ hình để dành riêng cho những tội nhân khốn khổ nhất, thập giá còn được gọi là cây tội lỗi, thế mà Chúa Giêsu đã biến đổi cây tội lỗi ấy trời thành cây cứu tinh cho cả nhân loại”.


“SaoLô là một con người đã từng gây ra không biết bao nhiêu là tội lỗi. Vậy mà chính Chúa Giêsu đã biên đổi anh SaoLô trở thành một vị thánh (Phao Lô) tông đồ đem tin mừng cho toàn thế giới”.

“Augustino là con người tội lỗi từng làm cho mẹ mình biết bao nhiêu là đau khổ và cùng nhiều người khác. Thế mà Thiên Chúa đã biến đổi Ngài trở thành một cánh tay đắc lực cho Hội Thánh”.

CON LẠC ĐÀ CHUI QUA LỖ KIM CÒN DỄ HƠN NGƯỜI GIÀU VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA
Hiện tại, trên thế giới mà nhất là ở các nước văn minh tiên tiến. Con người đa số đang sống trong đời sống vật chất, hưởng thụ. Người ta thấy trước mắt biết bao là sự lợi lộc phồn thịnh mà của cải vật chất luôn mang đến cho họ tất cả công việc trước đây làm bằng tay chân thì ngày nay sẽ được thay thế vào bằng máy móc. Các phương tiện hiện đại người ta quá sung sướng đến nỗi đi đến đâu sự vinh hoa và phồn thịnh luôn luôn ở bên họ “không làm cũng có ăn, không làm cũng có hưởng” trước mắt người ta là như thế và người ta bắt đầu kiêu ngạo không cần đi dự thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện nhưng vẫn có cái ăn cái mặc, có tất cả thậm chí còn sung sướng hơn những lúc đang giữ đạo. Người ta sống muôn chiều xác thịt, hưởng thụ và sẵn sàng truyền đạt lại cho con cháu mình noi theo, cho nên ngay chính từ bây giờ thế giới đang đau đầu với các giới trẻ, thanh thiếu niên mới lớn, làn sóng tội phạm phát sinh ngày càng một thêm đông. Không biết yêu thương bác ái là gì, không biết Thiên Chúa là ai, đọc kinh cầu nguyện tham dự các thánh lễ cũng chẳng biết để làm gì, những thời giờ còn lại học sa vào những cuộc ăn chơi trụy lạc, của cải vật chất luôn đè nặng trên đôi vai và tâm hồn của họ những ý tưởng cao đẹp ngày càng biến mất thay thế vào đó là những mâu thuẩn bất hòa, sinh ra biết bao nhiêu là giống tội. Vì thế tội ác mỗi ngày một gia tăng.

Ngày 13 tháng 04 năm 2011, Đức Mẹ nói: “Của cải vật chất, nó cũng là một bức tường chia cách giữa các con và Thiên Chúa nhưng nó cũng có thể là hành trang dẫn đưa các con vào nước hằng sống nếu biết sử dụng”. Nói thì nói như vậy nhưng đa số của cải vật chất rất dễ làm cho con người lu mờ hình ảnh Thiên Chúa. Bởi vì con người luôn nghĩ rằng có tiền là có tất cả, muốn cái gì cũng có, v.v… nhưng cũng có thể là mất Thiên Chúa mà nếu mất Thiên Chúa cũng là mất tất cả, điểu đó dễ hiểu lắm vì nếu con người có Chúa là có yêu thương, không có hận thù, có Thiên Chúa là có hòa bình, không mâu thuẫn. Có Thiên Chúa thì có công bằng bác ái, không có ích kỷ gian lận, có Thiên Chúa thì có tâm hồn cao thượng và trong sạch không có ô uế, dâm tà. Có Thiên Chúa thì có sự kính trọng yêu thương lễ nghĩa, mất Thiên Chúa con người mất hết nền đạo đức yêu thương lễ nghĩa và cũng như là mất tất cả. Đức Mẹ đã từng nhắc nhở con người: “Hãy chạy đến Chúa gấp đi kẻo trễ rồi, như vậy chạy đến Chúa gấp gấp con người phải làm gì…?”


I. Phải hết lòng yêu mến Thiên Chúa, bày tỏ lòng hối cải sám hối thú nhận mọi tội lỗi của mình trước mặt Chúa mọi lúc mọi nơi, sống bác ái yêu thương với tất cả mọi người.

II. Phục vụ lẫn nhau với tinh thần nghèo khó chia sẻ theo đức công bằng.

III. Hiệp nhất sống mật thiết với Đức Kitô trong đức tin, hòa nhã trong một cộng đồng trở về với Chúa trong công việc truyền giáo hiệp nhất trong các thánh lễ và những giờ cầu nguyện.

IV. Từ bỏ lối sống xa hoa, vật chất biết đem của cải vật chất phục vụ cho Thiên Chúa cho người nghèo khổ, người bất hạnh.

V. Sống biết vâng lời trong mọi hoàn cảnh theo thánh ý của Thiên Chúa và phục vụ Giá Hội.

“Yêu thương anh em là thể hiện long yêu mến Thiên Chúa”
     (TĐ.22.02.2012).

NGHÈO ĐÓI VÀ BỆNH TẬT
Trong những năm tháng sống trong cảnh nghèo đói và bệnh tật. Tôi (Thomas Maria) mới cảm nghiệm ra được đó chính là một hồng ân của Thiên Chúa vì thường thường những con người nghèo khổ hoặc bệnh tật rất ít có bạn bè, người thân, ít được người lui tới viếng thăm vì sợ liên lụy, nên họ cảm thấy mình rất cô đơn, trống vắng, nên trong những giờ phút cô đơn ấy họ cảm thấy mình rất dễ dàng được gần gũi với Chúa. Bởi vì người khốn khổ hay gặp sự khó mà khi gặp sự khó người ta hay cầu nguyện hoặc kêu tên Chúa, việc này làm cho Chúa rất thích, đôi lúc Thiên Chúa cũng muốn gởi sự khó đến cho con người để con người kêu đến danh Chúa hoặc để cho con người cầu nguyện. Rất nhiều những kỉ niệm còn in lại trong tâm não của tôi khi còn nằm  trên giường bệnh, có những lần vì quá đau đớn vì căn bệnh hành hạ, tôi đã thốt ra những lời như trách móc Chúa, “Lạy Chúa con đau quá Chúa ơi..! Nhưng sau đó tôi nghe được tiếng vọng lại từ tâm hồn: hãy lần chuỗi đi con à, và như thế tôi ngồi gượng dậy để lần hạt Mân Côi”.

Tôi cảm nhận ra được có lúc Chúa làm cho tôi rất là đau đớn và khổ sở, và tôi cũng nghe tiếng vọng lại từ đáy lòng: Hãy yêu Chúa và đền tội, hầu như Chúa muốn tôi lúc nào cũng yêu mến chúa và đền tội.

Có một lần tôi bị mắc nợ người ta, vì hoàn cảnh túng thiếu tôi không sao trả được số nợ ấy cho đến lúc chủ nợ phải thuê một đám giang hồ đến thanh toán đánh đập tôi một cách dã man, chỉ trong chốc lát thân hình tôi đầy những vết thương và máu. Quá đau đớn tôi bò dậy ngồi trước bàn thờ than thở với Chúa: “Lạy Chúa con đau khổ quá Chúa ơi” và ngay lúc ấy tôi nghe có tiếng vọng lại. “Hãy yêu mến Chúa, tha thứ và đền tội”.

Kể từ khi tôi nhận ra tiếng vọng trong tâm hồn từ Thiên Chúa, tôi đã nhận ra ngay đó chính là tình yêu, là một huyền nhiệm.Có đau khổ chúng ta mới chiến thắng được hận thù, mâu thuẫn, ích kỉ và lòng ganh tị của con người. Có đau khổ chúng ta dễ dàng bắt gặp Chúa trong anh em chúng ta nghèo đói, bệnh tật. Là hành tranh đưa con đến với Thiên Chúa, không phải là Chúa muốn chúng ta luôn luôn chịu đau khổ nghèo đói hay bệnh tật xin đừng sai vì điều ấy. Bởi vì chúng ta nghèo đói bệnh tật, chúng ta rất dễ dàng tìm gặp Chúa trong mỗi tâm hồn chúng ta sự lo lắng, thất vọng, chán nản dễ dàng đưa miệng lưỡi chúng ta nói chuyện hay tâm sự tỏ bày cùng Chúa, hoặc cùng Đức Mẹ. Khi tôi đã từng còn nằm trong hoàn cảnh ấy, tôi hay mở miệng ra thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là niềm hi vọng, là tất cả của đời con, con hoàn toàn tin cậy và tín thác nơi Chúa”. Còn khi con người chúng ta quá dư ăn, dư để. Con người rất dễ dàng cậy ở sức mình dư thừa rồi, có gì đâu mà trông cậy Chúa…!? Có biết đau khổ là gì mà tín thác vào Chúa…!? Người giàu có dễ có bạn bè, mà khi ngồi lại với nhau họ thường bàn tính chuyện làm ăn với nhau để mưu cầu sinh lợi. Còn người nghèo khổ bệnh tật ít bạn bè lui tới nên họ cảm thấy cô đơn, nên họ dễ dàng gặp Chúa trong tâm hồn của mình. Đau khổ là hành trình nối bước theo Đức Kitô về nhà Cha. Đau khổ là đường thập giá để chiến thắng bao tội lỗi và oan nghiệt. Đau khổ là lợi ích là muôn triều phồn thịnh cho tất cả linh hồn. Như Chúa Giêsu đã dung sự nghèo hèn và đau khổ để cứu chuộc cho nhân loại. Lạy Chúa cho chúng con ý thức và nhận ra được thánh ý của Chúa. Amen †



MỘT NGÔN SỨ SẼ BỊ BỎ RƠI
Tôi là Thomas Maria.
Trong bài viết này tôi xin chân thành gửi đến cho tất cả các anh chị em mà đặc biệt hơn là các anh chị em đang gặp đau khổ nghèo đói, bất hạnh.
Anh chị em rất thân mến…!

Tôi xin động viên khích lệ với tinh thần đồng cảm với anh chị em mà nhất là những con người bần cùng trong xã hội. (Thomas là cái tên không còn xa lạ gì nữa đối với anh chị em, người đã được diện kiến gặp gỡ với Đức Mẹ rất nhiều lần trong những hoàn cảnh khác nhau. Có những lần gặp Mẹ trong ánh sáng, trong một con người thật có thân xác trong thị kiến. Và trong tử tưởng, trong không gian một khuôn mặt có hình xương sáng láng trong bộ áo dài màu xanh nhợt, khăn trùm đầu màu trắng như tuyết. Trên đầu Mẹ thường có hình chim bồ câu màu trắng, dáng cao khoảng 1,69 mét, đi chân không có các thiên thần hầu hạ. Đức Mẹ có nét giống người Châu Á, thường xuất hiện mùi thơm kỳ lạ kéo theo những vầng mây hồng, Mẹ có một nét đẹp hết sức lạ thường).

Trong những năm tháng còn bị bệnh tật hành hạ và cô đơn trống vắng, Đức Mẹ hay đến an ủi động viên và nhắc nhở nhiều lần trong tâm hồn, tuy không hiện ra như một thân xác nhưng mỗi lần gặp là đau khổ, là được nghe Mẹ đến yên ủi trong tâm hồn.

(Mãi cho đến ngày 28 tháng 11 năm 2010. Ngài đã thực sự hiện ra với tôi như một con người, như một người Mẹ).

Mẹ thường hay nhắc nhở tôi nhiều nhất là lần chuổi Mân Côi và đọc kinh Truyền Tin, có lần Mẹ nói trong tâm hồn tôi (lúc ấy giữa năm 2005): “Hỡi con hãy đi nói cho mọi người biết về việc lần chuỗi Mân Côi và sùng kính trái tim Chúa Giêsu trên toàn thế giới”. Lúc đó tôi đang bị bệnh nhưng Ngài hiểu ý tôi, Mẹ nói: “Con đừng lo con sẽ được khỏi bệnh”. Trong những năm tháng ấy tôi đâu có được đi đến nhà thờ tham dự các Thánh Lễ hoặc Chầu Thánh Thể, tôi rất là đau khổ chỉ biết lần chuỗi Mân Côi và đọc phúc âm. Nhưng Mẹ biết sự lo lắng ấy trong tâm hồn Mẹ nói: “Con đừng lo Chúa luôn bao phủ cả vũ trụ, vì thế cho dù bất cứ nơi đâu Ngài vẫn nghe thấy tiếng con kêu cầu”.

Tháng 04 năm 2007. Căn bệnh ngày càng trầm trọng hơn tôi rất lo lắng cho việc xưng tội rước lễ để được ơn chết lành nhưng tôi nghe tiếng Đức Mẹ yên ủi dạy dỗ rằng: “Con hãy xét mình lại, rồi nhớ lại từ lúc con có trí khôn cho đến bây giờ con đã phạm lỗi điều gì. Rồi con nghĩ đến Chúa đang ở bên cạnh con với lòng thành kính, con hãy thú nhận tội lỗi con cho Ngài, con hiểu chưa…? Rồi tiếp đến mỗi một ngày con hãy đến trình diện với Chúa 3 lần, bằng kinh cáo mình. Nếu như con lần chuỗi Ngắm 5 Mầu Nhiệm, mỗi lẫn Ngắm như vậy và đọc 1 kinh lạy Mẹ dạy tại Fatima thì con đã xưng tội với Chúa 1 lần. Nếu đọc hết 50 kinh thì con xưng tội với Chúa 5 lần”

Con hãy đọc như thế này: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con, khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn nhớ đến lòng thường xót Chúa hơn”.

Anh chị em rất yêu mến, tôi rất hiểu và xin được chia sẻ với anh chị em. Không phải như anh chị em nghĩ đâu, những năm tháng trước đầy bệnh tật nghèo đói cô đơn đau đớn thể xác. Nhưng từ khi được ơn chữa lành và phải đi làm chứng nhân sự thật cho Ngài, thì bị đau khổ một cách khác. Từ ngày 28 tháng 11 năm 2010 cho đến nay, hầu như không có ngày nào mà không gặp đau khổ. Tôi nhận ra một nỗi đau khổ lớn nhất chính là đau khổ tâm hồn, đau khổ đến có thể chết được, tôi nhớ lời Đức Mẹ nói ( 13/04/2011 ): “Con phải chịu nhiều đau khổ, bị sát hại và bị bỏ rơi. Người ta sẽ nguyền rủa và vu khống cho con đủ điều xấu xa. Hãy vui lòng đón nhận và hãy nên giống Chúa Giêsu”. Vì vậy tôi cũng van xin anh chị em khi gặp những đau khổ thể xác lẫn tâm hồn mình. Anh em hãy nên nhớ rằng: Đau khổ chính là hành trình cùng thập giá Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Hành trình ấy không có gì ngăn cản đươc anh chị em đừng có sợ mọi đau khổ. Nhưng cũng phải tha thứ cho những người mang đau khổ đến cho mình. Đừng biện luận vì biện luận sẽ dẫn đến những cãi vã và mâu thuẫn. Hãy noi gương đau khổ và sống khó nghèo như Chúa Giêsu Nazaret. Hãy vững tin vào Chúa và Mẹ. Tôi tin chắc mọi đau khổ của anh chị em sẽ được Chúa nâng đỡ cũng giống như tôi đang gặp quá nhiều đau khổ. Mà nhất là dẫn đến tính mạng, xin anh chị em hãy tin rằng: “Hạt giống gieo vào lòng đất nó có mục nát đi thì mới sinh ra nhiều hoa trái. Có đau khổ mới có vinh quang. Ai gieo trong lệ sầu sẽ gặt trong vinh quang niềm vinh quang ấy mới đích thực từ nơi Thiên Chúa. Từ ngày gặp rất nhiều đau khổ nhưng thật vẫn luôn chiến thắng được sự gian ác. Thiên Chúa của ta là Đấng tốt lành hơn hết".

Nghèo đói bệnh tật là một gánh nặng cho con người và cho xã hội nhưng cũng có thể Chúa dùng những kẻ nghèo đói bệnh tật để mua lấy nước trời cho người giàu có. Chúa có thể dùng hình ảnh người nghèo khổ bất hạnh để nên gương công chính cho kẻ giàu sang, người quyền thế trong xã hội. Rồi Chúa cũng muốn dùng hình ảnh của người nghèo khó, bất hạnh để nâng xã hội lên một mốc son yêu thương, công bằng, bác ái.

Hai giới răn trọng nhất mà Thiên Chúa đã dạy con người: Kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương mọi người như mình vậy. Hai tình yêu ấy cũng chỉ như một mà thôi. Yêu mến Thiên chúa là yêu mến con người, yếu mến con người là yêu mến Thiên Chúa. Bởi vì hình ảnh một Thiên Chúa cũng nói lên hình ảnh một con người (Chúa Giêsu), nhưng hình ảnh một con người cũng nói lên hình ảnh của một Thiên Chúa. Thiên Chúa xuống thế làm người, Ngài không lấy một con người quyền thế danh vọng. Nhưng lại mang lấy thân phận một con người khốn khổ, nghèo hèn và luôn luôn bị chối bỏ. Nếu khi Ngài xuống thế gian mang lấy một con người quyền thế, cao sang thì chắc lẽ không một ai chối bỏ Người. Ngài sẽ không bị xúc phạm, không bị bỏ rơi và người ta sẽ ủng hộ Ngài.

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau”. Ngày nay phần đông trong xã hội, con người thường hay phân biệt đối xử với nhau theo tính mưu cầu danh lợi cá nhân. Người giàu có quyền thế, không thể kết bạn với người khốn khổ, nghèo hèn. Người giàu có quyền thế phải làm bạn với người có thế lực. Một người giàu có không thể nào ngồi lại với người khốn khổ. Nhưng đối với Chúa thì mọi việc không như thế được, Chúa muốn mỗi một con người chúng ta phải mang lấy một hình ảnh khó nghèo, đơn xơ. Vì có khó nghèo, đơn sơ thì con người chúng ta biết cảm thông chia sẻ miếng cơm manh áo, tâm hồn và sự liên kết gần gũi với nhau trong tinh thần bác ái yêu thương phục vụ. Có tâm hồn nghèo khó đơn sơ con người chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh Chúa Giêsu Kitô trong mỗi một con người chúng ta.

“Hãy dùng tiền của mà mua lấy anh em. Tôi nói cho anh em biết, anh đã làm việc này cho một trong những kẻ hèn mọn nhất vì tôi là anh em đã làm cho chính tôi”. Bệnh tật nghèo hèn cô đơn, là một gánh nặng trong xã hội nhưng nó cũng nói lên một minh chứng tình yêu nơi Thiên Chúa nhân từ. Ngài luôn luôn mượn hình ảnh từ những con người bần cùng nhất trong xã hội để nói lên tình yêu và lòng thương xót bao dung. Thiên Chúa mượn hình ảnh của một con người nghèo hèn đau khổ để nói lên lòng quảng đại tha thứ và giao hòa một trong những vị Thánh có tên cao trọng trong Giáo Hội. Phần lớn xuất phát từ một con người bần hèn nhất trong xã hội, một trong những vị tiên tri vĩ đại nhất trong Giáo Hội, thường bị coi thường nhất trong Giáo Hội. Thiên Chúa luôn luôn nâng đỡ những kẻ nghèo hèn khốn khó và Ngài có thể đảo ngược lại tình thế, có thể Ngài sẽ chọn họ và dùng họ như một khí cụ tình yêu và bình an của Chúa.

Xin mỗi người trong chúng ta hãy cất lên bài kinh hòa bình.
“Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… Nguyện xin Thiên Chúa nhân lành là Cha chúng ta, nhờ sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô quyền năng của Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta. Amen †”.
THOMAS MARIA (Người tôi tớ hèn mọn).

_______
HÃY TRỖI DẬY NHƯ MỘT GIẤC MƠ NHƯNG LÀ SỰ THẬT

Từ cuối tháng 06 năm 2009 đến cuối tháng 10 năm 2010. Căn bệnh ngày càng có dấu hiệu nặng ra những tia hi vọng sống không còn nữa mà chỉ nắm chắc phần chết. Tất cả đi vào bế tắc, tôi đã luôn luôn cầu nguyện phó thác linh hồn mình trong tay Chúa và Đức Mẹ. Bởi vì lúc ấy tôi cảm thấy mình rất yêu mến Chúa và Đức Mẹ. Không hiểu tại sao mà lúc đó tôi cảm thấy trong tâm hồn tôi rất là nhẹ nhõm và yêu mến Chúa và Đức Mẹ vô cùng, tuy rằng tôi đang rất đau đớn, tôi cảm thấy như có một ai đó thì thầm dạy tôi đọc những câu nguyện tâm tình: “Lạy Chúa Giêsu con yêu mến Chúa, con tín thác vào Chúa”; “Lạy Mẹ Maria con xin dâng linh hồn và xác con cho trái tim vô nhiễm nguyên tội của Mẹ”. Khoảng 02 giờ sáng, ngày 28 tháng 11 năm 2010. Đang nằm vật lộn trong cơn đau hành hạ tôi thấy từ trên bức tường có phần hơi dơ bẩn, có một luồng ánh sáng xuất hiện, kèm theo một mùi thơm hết sức kỳ lạ. Lúc đó tôi rất là sợ hãi, lo lắng rồi cảm thấy như mình không còn đau đớn gì nữa, tôi bỏ vội ra ngoài phòng ngoài đọc kinh và muốn gọi cho cả nhà thức dậy nhưng không hiểu tại sao tôi không gọi thành tiếng được, cố tựa đầu vào vách tường ngăn tôi thấy ánh sáng ấy chiếu qua cửa buồng khoảng độ vài phút rồi tắt lịm để lại một mùi thơm hết sức là dịu. Tôi cố lấy lại sự bình tĩnh để nhận ra điều gì đang xảy ra với mình, nhưng không thể nào lấy lại được sự bình tĩnh được. Cố gắng lắm để dâng lên cho Đức Mẹ 50 kinh Mân Côi vừa kết thúc thì ánh sáng ấy lại bắt đầu xuất hiện lần thứ hai. Nhưng lần này ánh sáng ấy có phần dịu hơn, nhưng tôi vẫn cảm thấy rất lo lắng và cũng không hiểu mình phải làm gì. Nhưng có một tiếng nói nào đó nhắc nhở tôi “Hãy bình tĩnh và cầu nguyện đừng có sợ” và ánh sáng ấy bắt đầu mờ dần đi, rồi tắt hẳn. Lúc ấy tôi cảm thấy tâm hồn đỡ sợ và bớt lo lắng đi, khi nghĩ đến những lời nhắc nhở thì thầm vừa mới đó. Vì tôi nghĩ rằng mọi việc xảy ra chắc là điều lành mà có thể là ở nơi Thiên Chúa mà ra, đang suy nghĩ đến độ không biết mình phải làm gì thì tôi bắt đầu nghe được tiếng nói phát ra từ tâm hồn mình rằng: “Hãy làm dấu Thánh Giá, và đi vào căn phòng nhỏ hãy nói Lạy Chúa tình yêu nơi Ngài đến không như con tưởng, Ngài sẽ làm cho những hư không thành hiện thực. Lạy Chúa Ba Ngôi con yêu mến Chúa”

(Sau này ngày 22 tháng 12 năm 2010. Đức Mẹ cho biết lời nói đó do chính Thiên Thần bổn mạng dạy cho con đọc để đón Đức Mẹ trước khi Ngài ngự đến).
Lúc ấy con biết vâng lời và đọc liên tục lời cầu nguyện ấy thì một lần nữa ánh sáng lần thứ ba bắt đầu xuất hiện. Nhưng lần này khác với hai lần trước, tôi cảm thấy như tâm hồn mình rất bình an và có phần chuẩn bị trước để đón Chúa, khi ánh sáng ấy bắt đầu dịu dần xuống thì trước mặt tôi xuất hiện một hình dáng của một người Thiếu Nữ và người Thiếu Nữ ấy chính là Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa. Ngài rất là sáng láng và xinh đẹp, một sắc đẹp không có ai ở trên trần gian này có được, trong lúc đang lúng túng không biết mình phải làm gì thì chính ngay lúc ấy Đức Mẹ hiểu được sự lo lắng của tôi đang chấp tay. Mẹ liền lấy tay phải nắm lấy tay trái của tôi với vẻ mặt đợm buồn. Mẹ nói: “Thomas con đừng có sợ. Hãy gọi ta là Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi Mẹ của con, và tất cả mọi người biết vâng lời Mẹ. Con hãy đưa tay cho Mẹ nắm lấy và kể từ bây giờ con đã thuộc về Mẹ”. Lúc đó tôi cảm thấy các chứng đau nhức bệnh tật trong người đều tan biến và thần khí Chúa Thánh Thần bao phủ lấy tôi, khiến cho tôi cảm thấy mình như một đứa bé rất nhỏ và thơ ngây trước mặt Đức Mẹ. Lúc ấy khoảng 04 giờ 15 phút sáng ngày 28 tháng 11 năm 2010.


Chân Tình Tri Ân Của Anh Thomas Maria Job Việt (9)
Thứ Năm, Ngày 6 tháng 9-2012
CHÂN TÌNH TRI ÂN CỦA ANH THOMAS MARIA JOB VIỆT (9)

LTS: Anh Việt có 2 cha linh hướng là Lm Ngô Mính Thúy, Dòng Biển Đức Thiên Phước và một cha linh hướng thứ hai là cha quản hạt vùng Thủ Thiêm.  (KH)

Kính gởi tất cả anh chị em, quí độc giả gần xa, khắp nơi trên toàn thế giới rất yêu mến. Các anh chị em, đã góp công góp sức cộng tác nhờ sự nâng đỡ của Đức Trinh Nữ Maria đã chung tay làm ra một cuốn sách nói về Mẹ Maria. Ban Thông Điệp cho toàn thể nhân loại tại Việt Nam.

Có nhan đề là: “HÃY TỈNH THỨC CÙNG MẸ HƯỚNG VỀ CHA TRÊN TRỜI”.

Kính gởi anh chị em rất yêu mến.!
Ngày nay… khắp nơi trên thế giới đang và xảy ra quá nhiều xáo trộn, Giáo Hội lẫn xã hội hận thù, chia rẽ tranh dành quyền lực, thanh toán lẫn nhau bằng đủ mọi hình thức, bạo lực từ trong gia đình, lẫn ngoài xã hội, tranh dành lãnh địa, hải phận lẫn nhau. Chiến tranh có thể hủy diệt hàng loạt, đang đe dọa chúng ta bất cứ lúc nào. Hòa bình đang có xu hướng bất ổn nhân loại đang đi vào ngõ cụt. Thiên tai, thảm họa bất ổn đang đe dọa môi trường sống của chúng ta. Đâu đâu người ta cũng đang hoang mang lo lắng rồi đây không biết điều gì sẽ xảy đến, cho nhân loại làn sóng tội lỗi đang lan rộng khắp nơi trên toàn thế giới.

Giáo Hội Công Giáo của chúng ta đang bị xâu xé từng ngày. Thánh Thể Chúa Giêsu Kitô đang bị xúc phạm một cách trầm trọng. Đức tin đời sống của người Công Giáo mỗi ngày đang bị lung lay giáo dân và Linh Mục đang đứng lên chống đối từng ngày, phẩm chất đạo đức trong giới trẻ đang bị suy thoái, nạn phá vỡ hôn nhân, bất tuân tự do phá thai giết chết các thai nhi. Cha mẹ con cái bất hòa, đang diễn ra mỗi ngày một trầm trọng. Nó có thể sẽ còn tiếp tục diễn ra khắp nơi trên thế giới này.


Kính thưa quí độc giả và toàn thể anh chị em rất yêu mến.!

Từ ngày 28 tháng 11 năm 2010. Đức Trinh Nữ Maria rất kính yêu của chúng ta đã đến Việt Nam. Ngài rất khẩn thiết van xin các con cái Mẹ hãy sớm thức tỉnh, cùng Mẹ Hướng về Thiên Chúa bằng chuỗi Mân Côi. Sốt sắng mỗi ngày luôn luôn dâng mình cho Thánh Tâm của Chúa Giêsu mọi nơi mọi lúc chỉ có những việc làm như thế, thì chúng ta mới có thể cứu nguy khẩn cấp cho toàn thế giới, nếu không thế giới chúng ta chắc chắn sẽ bị hủy diệt không thể nào tránh khỏi…

Anh chị em rất yêu mến.!

Qua bài viết này (Thomas Maria de Job.V.) xin chân thành tri ân sâu sắc với tất cả các anh chị em trong nước cũng như ở hải ngoại đã đóng góp rất nhiều công, sức, của để hoàn thành nên một cuốn sách. Tuy rất còn nhiều thiếu xót nhưng đây cũng là một điều kiện tốt để chúng ta được lắng nghe lời của Mẹ. Nhân loại của chúng ta, để chúng ta có thể muốn biết Mẹ Thiên Chúa, muốn nhắn nhủ với chúng ta điều gì.?

Chúng ta có thể sống tốt hơn với Chúa và Mẹ cũng như với anh em đồng loại mỗi ngày. Trong đời sống thiết thực, niềm ao ước lớn nhất của Thomas Maria de Job.V là tất cả mỗi người trong anh chị em chúng ta ai ai cũng biết sốt sắng, siêng năng lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày thì chắc chắn rằng thế giới chúng ta sẽ được cứu thoát, và sẽ được bình an trọn vẹn. Như lời Đức Mẹ đã từng hứa với chúng ta:


“Muốn cứu nguy tình thế nguy biến của thế giới, các con hãy khẩn cấp chạy đến Thánh Tâm Chúa Giêsu với lòng thương xót vô hạn, và sùng kính Mẫu Tâm Mẹ Maria qua chuỗi kinh Mân Côi mỗi ngày. Đây là lời mong mỏi thiết tha của Mẹ chúng ta, để nhờ những tràng chuỗi Mân Côi đơn xơ ấy mà Thiên Chúa, có thể cho trì hoãn lại mọi sự dữ cũng như làn sóng của sự hủy diệt, trong vũ trụ hôm nay. Xin chân thành tri ân sâu sắc tất cả các anh chị em. Đoàn thể Hội Rất Thánh Đức Mẹ Mân Côi, Tổng Hội Rất Thánh Đức Mẹ Mân Côi Việt Nam, Tổng Hội Rất Thánh Đức Mẹ Mân Côi trên toàn thế giới đã chung lòng, chung sức, chung lời, đã ngày đêm dâng lên Chúa và Mẹ Maria. Mỗi ngày như những bông hoa hồng xinh tươi, đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, chẳng khác nào như một dòng suối khô cạn nay đã được nguồn ân sủng của Thiên Chúa tuôn đổ vào, để tưới mát cho tất cả chúng ta.


Nguyện xin Thiên Chúa, là Cha toàn năng giàu lòng thương xót vô hạn, tuôn đổ muôn vàn hồng ân của Ngài xuống trên mỗi chúng ta. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin Mẹ nâng đỡ trợ giúp tất cả anh chị em chúng ta. Amen.”


Biên Hòa, ngày 04 tháng 09 năm 2012.

Thomas Maria de Job.V
và các anh chị em cộng đoàn tôi tá hèn mọn.
Thomas Maria chân thành tri ân



Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

Mừng Kính Tổng lãnh Thiên Thần Micae Gabriel Raphael 29.9.2012


“Các ngươi sẽ thấy các thiên thần Chúa lên xuống trên Con Người”

Thánh Tổng Lãnh Thiên thần Micae
Tổng lãnh thiên thần Micae
Micae, danh từ Hêbrô có nghĩa “Ai bằng Thiên Chúa” ám chỉ sự siêu việt của Thiên Chúa, được nói đến trong sách Đamien (10, 13-21) và trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan (12,7) như vị chiến thắng ma quỷ.

Thánh Micae đã chống lại thần dữ để bênh vực quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội nhận thánh Micae như Ðấng bảo trợ và tin rằng ngài vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngai tòa Chúa. Ngài được tôn kính ngay từ những ngày xa xưa bên Đông phương. Tại Tây phương, nhiều cuộc hiển linh của thánh Micae càng làm cho việc sùng kính khởi sắc hơn, như tại núi Gargano miền nam nước Ý, dưới thời đức Gelase (192-196).

Tại Pháp, thánh Thiên Thần là một thánh quan thầy. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện ra với Ðức Giám Mục thành Arranche và Ðức Giám Mục đã xây một thánh đường nguy nga để kính dâng Ðức Micae tại Mont Saint Michel. Từ đó, nơi đây đã trở nên một vị trí hành hương lớn.

Theo thánh nữ Jeanne d’Arc, Thánh Micae đã thúc dục bà đi gặp vua Charles VII để lên đường đi cứu nước

Thánh Micae là quan thầy những người làm nghề phải dùng đến lò nung như người làm bánh, người thợ rèn,… Thánh Thiên Thần cũng là quan thầy đoàn lính dù. Nhiều thành phố đã mang tên Người. Thánh Micae cũng được cầu khi giúp bệnh nhân sắp chết.



Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria

Tổng Lãnh Thiên Thần Gabiriel
Gabriel, danh xưng Hêbrô có nghĩa là “Thiên Chúa là sức mạnh”, cũng còn được gọi là “Sứ thần truyền tin”, được gửi đến để báo tin Thiên Chúa can thiệp vào việc cứu rỗi nhân loại và đấng Messia sẽ đến thực hiện. Gabriel được gửi đến với ngôn sứ Danien (Dn 8, 16;9,21-27), với ông Giacaria và Đức Mẹ (Lc 1,11-38;8,16-27;9,21-27). Đây cũng là sứ thần đã nhiều lần hiện ra báo mộng cho Thánh Giuse.


Việc tôn sùng thánh Gabriel nổi bật vào thế kỷ X. Năm 1951, đức Piô XII đặt làm quan thầy các chuyên viên truyền thông (truyền thanh, truyền hình, điện thoại).

Thánh Bernard nhận định: Trong tất cả các thiên thần, đức Gabriel đã được thấy là vị xứng đáng loan báo những chương trình của Thiên Chúa cho Đức Mẹ và đón nhận lời fiat (xin vâng) của Mẹ

Từ những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô Giáo, Đức Tổng lãnh Thiên thần Gabriel đã được phụng vụ tôn kính. Vào thế kỷ IX, tên ngài đã thấy xuất hiện trong danh bộ các thánh, được mừng vào ngày 24 tháng 3, gắn liền với lễ Truyền Tin. Vào năm 1921, Đức Biển Đức XV tuyên bố một ngày lễ kính tổng thần Gabriel trong toàn thể Giáo Hội. Hiện nay, ngài được mừng chung với tổng thần Micae và tổng thần Raphael vào ngày 29 tháng 9

Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael

Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael

Danh xưng Raphael tiếng Hêbrô có nghĩa là “Thiên Chúa chữa lành” hoặc “Thầy thuốc của Thiên Chúa”.

Sách Tobia cho biết, chính ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình ông Tobit trong cơn hoạn nạn. Trong câu chuyện này, ngài xuất hiện để dẫn dắt con ông Tobit là Tobia qua những cuộc mạo hiểm dị thường mà sau cùng dẫn đến một kết quả thật tốt đẹp: Tobia kết hôn với Sarah, ông Tobit được chữa khỏi mù mắt và tài sản của gia đình ông được hồi phục. Người đã cho hai cha con biết: “Ta là Raphael, một trong bảy khâm sai của Thiên Chúa hằng ở bên cạnh Ngài trong huy hoàng của Ngài hiện diện.”

Mục đích của câu chuyện là để minh chứng sự Thiên Chúa quan phòng hằng hoạt động trong đời con người và hằng nghe lời cầu xin. Raphael được cầu xin cho thể xác khang an, linh hồn khỏe mạnh và là quan thầy người đi đường.
Trước đây, Thánh Raphael được giáo hội kính nhớ vào ngày 24 tháng 10 hằng năm. Điều này đã được thêm vào niên lịch Giáo Hội La Mã trong những năm 1921. Vào năm 1970, khi duyệt lại niên lịch, Giáo Hội đã đưa ngày lễ kính thánh Raphael vào chung một ngày với thánh Micae và thánh Gabriel.


Cả 3 vị tổng lãnh thiên thần: Micae, Raphael, Gabriel đều được Giáo Hội mừng kính vào ngày 29 tháng 9 hằng năm (lễ kính các tổng lãnh thiên thần)


Ngoài ra, theo một số tài liệu, có tất cả 7 thiên thần quyền quý thường hầu cận bên Thiên Chúa. Sau 3 tổng lãnh thiên thần nêu trên, các vị còn lại là Uriel, Selphiel, Jegudiel, và Barachiel
http://giesulove.net/diendan/hanh-tich-cac-thanh/913-cac-tong-lanh-thien-than.html 




   Lạy Tổng lãnh Thiên Thần Micae yêu dấu, xin Ngài cứu giúp ,trợ giúp chúng con trong cơn giao chiến chống lại mưu chước ma quỷ, chúng như sư tử rảo khắp thế giới làm hại các Linh hồn, con khấn xin Chúa cho chúng con biết chạy đến kêu cầu cùng Ngài nhiều hơn , con xin lỗi Ngài vì rất nhiều người đã quên không đọc lời cầu nguyện cùng Ngài để kêu cầu sự trợ giúp của Ngài , xin Ngài cùng đồng hành với chúng con hàng ngày và xin cho gia đình chúng con đừng rơi vào cơn cám dỗ, nếu ma quỷ có đặt bẫy chúng con xin Ngài ra tay bảo vệ , che chở chúng con. Con tin tưởng vào Ngài, con yêu kính Tổng lãnh Thiên Thần dấu yêu! Amen

Bí ẩn về các Tổng lãnh Thiên thần


Bí ẩn về các Tổng lãnh Thiên thần


Chúng ta thường chỉ biết 3 Tổng lãnh Thiên thần (TLTT) là Micae, Raphael, và Gabriel. Nhưng thực ra còn nhiều TLTT khác, nghĩa là chúng ta chưa “quen” chư vị đó. Ngay trong tam vị TLTT cũng có điều chúng ta chưa biết. Đó là TLTT Micae còn được gọi là Beshter, Mika'il và Sabbathiel; TLTT Raphael còn được gọi là Labbiel; TLTT Gabriel còn được gọi là Abruel, Jibril, Jiburili và Serafili.

Đây là chư vị TLTT còn “xa lạ” với chúng ta:

1. Tên TLTT Uriel nghĩa là “Ánh sáng của Thiên Chúa”, “Lửa của Thiên Chúa”, hoặc “Thiên Chúa là Ánh sáng”.
TLTT Uriel được coi là một trong các TLTT khôn ngoan nhất vì thông minh, xử lý mau lẹ và thấu hiểu, nhưng ngài rất tinh tế. Thậm chí bạn không thể nhận ra ngài đã đáp lại lời cầu của bạn khi bạn có ý tưởng mới lạ hoặc thông minh đột xuất.

TLTT Uriel đã cảnh báo ông Noe về lụt Đại hồng thủy, giúp ngôn sứ Ezra hiểu các lời tiên báo mầu nhiệm về Đấng Mêssia sẽ đến và cho nhân loại biết các dấu chỉ. Ngài cũng soi sáng trong các tình huống, cho biết thông tin tiên tri và cảnh báo. Vì thế, lĩnh vực hoạt động của ngài là làm điều lạ, giaỉ quyết vấn nạn, hiểu biết tâm linh, học tập, thời tiết, thay đổi trái đất và viết lách. Khi động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, dông bão, thiên tai và biến đổi khí hậu, hãy kêu cầu TLTT Uriel giúp cho tai qua nạn khỏi hoặc chữa lành và phục hồi sau đó.

Thế kỷ VIII, Kitô giáo được cảnh báo về lòng sùng kính thái quá mà nhiều người dành cho các thiên thần. Và vì lý do nào đó, năm 145, triều đại ĐGH Zachary, một Hội đồng La Mã truyền lệnh bỏ tên 7 TLTT ra khỏi danh sách các TLTT của Giáo hội, một trong các vị đó là TLTT Uriel.

2. Tên TLTT Chamuel (cách viết khác: Camael, Camiel, Camiul, Camniel, Cancel, Jahoel, Kemuel, Khamael, Seraphiel, Shemue) nghĩa là “Người thấy Thiên Chúa” hoặc “Người tìm kiếm Thiên Chúa”.
TLTT Chamuel là thiên thần của tình yêu thuần khiết, ngài có thể nâng bạn lên khỏi hố sâu u buồn và tim lại tình yêu trong lòng mình. Ngài giúp chúng ta đổi mới và cải thiện các mối quan hệ cũng như tìm được người bạn tâm giao. Ngài hành động với chúng ta trong việc xây dựng nền tảng vững chắc trong các mối quan hệ (kể cả sự nghiệp) để các mối quan hệ lâu dài, ý nghĩa và lành mạnh. Bạn biết ngài ở bên bạn khi bạn cảm thấy xao xuyến trong lòng và cơ thể như có kiến bò.

Nếu có mối quan hệ nào rạn nứt, nếu bạn cố giữ mối quan hệ và không cho người kia tự do bày tỏ tình cảm, hãy cầu xin TLTT Chamuel hướng dẫn và nâng đỡ. Ngài cũng có thể giúp bạn trong các lĩnh vực nếu bạn cần củng cố quan hệ cha mẹ và con cái, nếu bạn cảm thấy khó yêu thương người khác, nếu lòng bạn chai cứng và đầy cảm xúc tiêu cực, nếu bạn chia tay với ai đó, nếu bạn mất một người thân, nếu bạn bị căng thẳng hoặc trầm cảm, nếu bạn thất vọng, nếu bạn cô đơn hoặc đau khổ, nếu bạn cần được yêu thương, nếu bạn bị phê phán hoặc chỉ trích, nếu bạn không cảm thấy yêu đời.

TLLT Chamuel cũng có thể giúp đỡ trong việc kiến tạo hòa bình thế giới, tiến triển nghề nghiệp, sống có mục đích và tìm kiếm những gì đã mất.

3. Tên TLTT Jophiel (cách viết khác: Iofiel, Iophiel, Jofiel, Zophiel) nghĩa là “Vẻ đẹp của Thiên Chúa”.
TLTT Jophiel là thiên thần hiện diện trong Vườn Địa Đàng và sau đó chăm sóc các con của ông Noe. Ngài là TLTT về nghệ thuật và vẻ đẹp, là bổn mạng các nghệ sĩ, giúp đỡ trong các kế hoạch nghệ thuật, suy nghĩ những điều tốt đẹp, nhìn ngắm và đánh giá các vẻ đẹp ở xung quanh. Ngài là TLTT về trang trí nội thất nên ngài giúp làm đẹp nhà cửa và công việc. Ngài soi sáng bằng cách cho chúng ta những ý tưởng hay và giúp khả năng làm nghệ thuật. Ngài giúp chúng ta thấy cái đẹp trong mọi sự.
Ngài giúp chúng ta sáng tạo, đồng thời giúp chúng ta lắng đọng và cảm thấy mùi hoa hồng. Hãy cầu xin Ngài nếu bạn cần vui sống vì mất phương hướng sống, nếu tâm hồn bạn ngủ quên và cần đánh thức, nếu bạn muốn biết mình là ai và muốn sống cao thượng, nếu bạn muốn thăng tiến trên hành trình tâm linh.
Bạn nhận ra ngài khi làm việc nếu bạn đang tìm cách giải quyết vấn đề trong cuộc sống và muốn khôn ngoan hơn, mọi sự sẽ trở nên rõ ràng và dễ dàng xử lý.

4. Tên TLTT Raguel (cách viết khác: Akrasiel, Raguil, Rasuil, Rufael, Suryan) nghĩa là “Người bạn của Thiên Chúa”.
TLTT Raguel là thiên thần của công lý và chính trực, ngài giám sát các TLTT và các thiên thần, để chắc chắn là các thiên thần làm việc hài hòa với nhau và ra lệnh cho các thiên thần theo đúng Ý Chúa.
Ngài là TLTT bênh vực những người bị áp bức. Hãy xin ngài giúp đỡ khi bạn cần có sức mạnh và sự tôn trọng. Ngài giúp giả quyết các vụ tranh chấp, giúp hợp tác và hài hòa trong các nhóm người và gia đình. Ngài bảo vệ những người bị đối xử bất công, và giúp giải hòa.
Trong sách Khải huyền của Thánh sử Gioan, TLTT Raguel được coi là người giúp Thiên Chúa: “Ngài sẽ sai Thiên thần Raguel, nói rằng: Hãy đi thổi kèn kêu gọi các thiên thần của băng giá, băng tuyết và băng đá, rồi giáng cơn giận xuống trên những người đứng bên trái”.
Dù ngài được ca tụng, nhưng năm 745, ngài bị Giáo hội La Mã giáng cấp (cùng với các thiên thần khác, kể cả TLTT Uriel). Lúc đó, ĐGH Zachary mô tả TLTT Raguel là ma quỷ (demon) “tự cho mình là thánh”.

5. Tên TLTT Ariel (theo thuyết Thần thông) nghĩa là “Sư tử của Thiên Chúa” và thường có sư tử kèm theo. Khi TLTT Ariel ở gần bạn, có thể bạn bắt đầu thấy hình những con sư tử ở xung quanh bạn. Ngài liên kết với gió. Trong sách thần bí của Do Thái giáo và thuyết Thần thông, ngài hoạt động sát cánh với Vua Solomon qua sự hiện hình, giải thoát và quyền phép của Chúa.
Ngài cũng giám sát các thần, bản chất của ngài liên kết với nước. Ngài liên quan việc chữa lành và bảo vệ thiên nhiên, kể cả động vật, cá và chóc. Nếu bạn thấy con chim bị thương hoặc các động vật hoang dã khác cần được chữa lành, hãy cầu xin TLTT Ariel giúp đỡ. Ngài cũng hoạt động sát cánh với TLTT Raphael để cứu chữa các động vật.

6. Tên TLTT Azrael (theo Do Thái giáo và Hồi giáo) nghĩa là “Người được Thiên Chúa giúp đỡ”, mệnh danh là Thiên thần của Tử thần. Người Do Thái và Hồi giáo rất sợ ngài. Vai trò quan trọng của ngài là giúp người ta bước vào Nước Trời ngay trong giờ lâm chung. Ngài giúp người ta bớt đau đớn thể lý, giúp họ không sợ chết. Ngài là người an ủi, che chở những thân nhân buồn sầu và giúp họ vượt qua nỗi đau mất mát.
Mỗi khi TLTT Azrael nháy một mắt là có một người từ giã cõi đời. Ngài cũng theo dõi những người hấp hối bằng cách ghi ngày tháng năm sinh của người sống và xóa tên những người đã qua đời.


7. Tên TLTT Camael (theo Thuyết thần thông) nghĩa là “Người thấy Thiên Chúa”, ngài là một trong 7 TLTT uy tín trước mặt Thiên Chúa. Nguồn gốc ngài là Thần Chiến Tranh trong thần thoại Druid, ngài thường được coi là người cai quản Hỏa tinh, đồng thời là một trong 7 Thiên thần cai quản 7 hành tinh.
Với những người theo Thuyết thần thông, ngài được coi là một trong 10 TLTT. Theo truyền thống Do Thái, ngài là người trung gian, nhậm lời cầu nguyện của dân Israel trước các Thiên thần ở tầng trời thứ bảy.
8. Tên TLTT Haniel (theo người Babylon và thuyết Thần thông) nghĩa là “Hồng ân Thiên Chúa” và thường được gọi bằng danh xưng Hoàng tử hoặc trưởng các Thiên thần hoặc trưởng các quốc vương và các nhân đức. Vì thế, TLTT Haniel được coi là một trong 7 TLTT. Một số bản văn của thuyết Thần thông tin ngài hộ tống Enoch tới thế giới thần linh và ngài được biến thành Thiên thần Metatron, chỉ có 2 người được trở thành Thiên thần là ngài và người anh em là Elijah.
Ngài giúp chúng ta phát hiện những gì đã mất trong các liệu pháp tự nhiên như thuốc nước, thuốc bột và tinh thể. Ngài sẽ giúp bạn bất kỳ lúc nào bạn cần ăn nói trước công chúng và giúp bạn vẫn bình tĩnh và tập trung. Bạn cũng có thể cầu xin ngài giúp đem lại vẻ đẹp, sự hài hòa và những người bạn biết yêu thương.

9. Trong các bản văn cổ của Do Thái giáo, TLTT Jeremiel (cách viết khác: Ramiel) là một trong 7 TLTT chính, tên ngài nghĩa là “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa” hoặc “Người được Thiên Chúa dựng nên”. Người ta tin ngài đã giúp Baruch, một tác giả viết nhiều bản văn của Ddo Thái giáo hồi thế kỷ I, và có nhiều thị kiến. Người ta cũng tin rằng ngài đã đưa Baruch đi tới các tầng trời. Việc Đấng Mêssia đến là một trong các thị kiến của TLTT Jeremiel.
Ngài giúp chúng ta xem lại cuộc sống để chúng ta có thể sửa sai bằng cách điều chỉnh tích cực. Ngài cũng có thể giúp chúng ta thay đổi đời sống, làm chúng ta mạnh mẽ hơn và dẫn chúng ta trên đường ngay nẻo chính. Ngài còn giúp chúng ta sáng suốt và thấy điều tiên báo, đồng thời giúp chúng ta hiểu những giấc mơ.

10. Tên TLTT Metatron (theo Do Thái giáo và thuyết Thần thông) là một trong 2 tên của các TLTT không tận cùng bằng tiếp vĩ ngữ “el”. Ngài là một trong 2 TLTT là con người trước khi trở thành thiên thần (người kia là Êlia trở thành TLTT Sandalphon). Khi còn là con người, ngài là Enoch. Nghĩa của Metatron không rõ, nhưng một số người cho rằng tên đó nghĩa là “Người chiếm chỗ gần Ngai Thiên Chúa” hoặc “Thiên thần của sự hiện diện”, cũng có thể tên ngài được rút ra từ Tôn danh Gia-vê (Yahweh), tiếng Do Thái dùng để chỉ Thánh Danh Chúa.
Là một trong các Thiên thần quan trọng nhất theo truyền thống Tây phương, ngài đại diện cho Thiên thần của Tử thần, hằng ngày Thiên Chúa truyền lệnh cho ngài “bắt” những linh hồn nào từ giã thế gian. TLTT Metatron chuyển lệnh cho các “phụ tá” là các TLTT Gabriel và Sammael.

Khi còn tại thế, Enoch là tiên tri và ký lục, đồng thời là học giả về các điều bí mật của trời, được nhận “Sách của Thiên thần Raziel”, sách ghi chép công việc của Chúa do TLTT Raziel ghi chép rồi trao cho Adam, Noe, Enoch và Solomon. Cuối cùng, Thiên Chúa hộ tống Enoch trực chỉ tầng trời thứ bảy (tầng trời cao nhất) để cư ngụ và làm việc. Enoch được trao cho đôi cánh và trở thành TLTT Metatron. Vì hoàn tất công việc xuất sắc trên thế gian, ngài được trao cho công việc tương tự là ghi chép hồ sơ về mọi thứ xảy ra trên thế gian và giữ hồ sơ Akashic, đó là “Sách Sự Sống”. Trên trời, ngài là ký lục trưởng và chịu trách nhiệm ghi chép và tổ chức mọi hồ sơ. Ngài giúp chúng ta hiểu viễn cảnh Nước Trời và biết cách làm việc với vương quốc Thiên thần.

Ngài có vị trí đặc biệt trong tâm dân chúng. Sau cuộc Xuất hành (Exodus), TLTT Metatron dẫn con cái Israel qua hoang địa và đến nơi an toàn. Ngài tiếp tục dẫn dắt con cái ngày nay, cả trên trời và dưới đất, đồng thời giúp họ vào Trời sau khi vượt qua gian khổ.

11. TLTT Raziel (theo Do Thái và thuyết Thần thông) làm việc sát cánh với Đấng Tạo Hóa và biết các bí mật của vũ trụ về cách vận hành. Ngài ghi chép các bí mật trong một cuốn sách đầy biểu tượng và quyền phép của Chúa gọi là “Sách của Thiên thần Raziel”. Sau khi ông bà nguyên tổ bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng, TLTT Raziel trao cho ông Adam cuốn sách hướng dẫn cách thể hiện và nhận Ơn Chúa. Sau đó, tiên tri Enoch nhận cuốn sách trước khi ngài về trời và trở thành TLTT Metatron. Ông Noe cũng nhận một cuốn sách từ TLTT Raphael và ông Noe đã dùng các thông tin trong đó để đóng tàu và giúp mọi người sau Đại Hồng Thủy.
TLTT Raziel có thể giúp chúng ta hiểu các bí mật, các nguyên tắc biểu hiện, hình học thánh (sacred geometry), vật lý lượng tử (quantum physics) và các thông tin cao cấp khác. Ngài cũng giúp chúng ta tới khả năng tâm lý, tăng khả năng nhìn, nghe, hiểu biết và cảm thấy sự hướng dãn của húa. Ngài còn giúp chúng ta sáng suốt.

 12. Tên TLTT Sandalphon (theo Do Thái và thuyết Thần thông) là một trong 2 tên của các TLTT không có tiếp vĩ ngữ “el”. Ngài là anh em song sinh với TLTT Metatron. Chỉ có 2 vị TLTT này có nguồn gốc là con người. TLTT Sandalphon là tiên tri Êlia và TLTT Metatron là con người khôn ngoan Enoch. Thiên Chúa cho họ trở thành Thiên thần để thưởng công họ đã làm việc xuất sắc trên thế gian.

Việc lên trời của Êlia xảy ra khi ông được nâng lên trời trên một chiếc xe đầy lửa (fiery chariot) do 2 con ngựa lửa kéo đi, theo sau là gió cuốn, một sự kiện đã được ghi trong chương II của sách Các Vua, quyển II.

Vai trò chính của TLTT Sandalphon là chuyển những lời cầu của con người lên Thiên Chúa để họ được Thiên Chúa đáp lại. Ngài được coi là cao đến nỗi từ trời tới đất. Người xưa cho rằng TLTT Sandalphon có thể giúp các thai phụ xác định giới tính của thai nhi, và nhiều còn người tin rằng ngài còn liên quan âm nhạc nữa.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ AngelFocus.com)


Nguồn : 

 http://www.thanhlinh.net/node/31924

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

CÁC BÍCH TÍCH HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

PHẦN II: CÁC BÍCH TÍCH HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Bí tích là những dấu chỉ hữu hình do Chúa Giêsu thiết lập và được trao lại cho Hội Thánh để ban sự sống thần linh cho chúng ta.
TÓM TẮT GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

PHẦN II
: BÍ TÍCH



I. ĐỊNH NGHĨA VỀ CÁC BÍ TÍCH.

Bí tích là những dấu chỉ hữu hình do Chúa Giêsu thiết lập và được trao lại cho Hội Thánh để ban sự sống thần linh cho chúng ta.

Qua định nghĩa trên, chúng ta thấy bí tích gồm ba yếu tố, đó là dấu chỉ hữu hình; Chúa Giêsu lập, trao lại cho Giáo Hội; và ban sự sống thần linh. Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì không là bí tích. Chẳng hạn việc làm phép ảnh tượng, làm phép nhà, làm phép xe… Đây là những cử hành có dấu chỉ bề ngoài và qua đó Chúa ban ơn bên trong, nhưng đây không phải là bí tích, vì không phải do Chúa Giêsu lập mà là do Giáo Hội lập, nên đây chỉ là á bí tích. Còn bí tích phải là do chính Chúa Giêsu lập. Theo Giáo Hội Công Giáo, Chúa Giêsu lập bảy bí tích.

Thứ nhất: bí tích Rửa Tội.

Thứ hai: bí tích Thêm Sức.

Thứ ba: bí tích Thánh Thể.

Thứ bốn: bí tích Giải tội.

Thứ năm: bí tích Xức dầu thánh.

Thứ sáu: bí tích Truyền chức thánh.

Thứ bảy: bí tích Hôn phối.

Anh em Chính Thống giáo nhìn nhận bảy bí tích của Giáo Hội Công giáo. Giáo Hội Công giáo cũng nhìn nhận bảy bí tích của anh em Chính Thống giáo. Trong những trường hợp đặc biệt, khi người Công giáo ở vùng không có nhà thờ Công giáo, họ có thể lãnh nhận các bí tích ở nhà thờ Chính Thống giáo. Còn anh em Anh giáo, họ có bảy bí tích như Công giáo, nhưng chúng ta không công nhận bảy bí bí tích của họ, mà chỉ công nhận bí tích Thánh tẩy. Riêng anh em Tin Lành, chúng ta công nhận bí tích rửa tội của một số giáo phái Tin Lành. Những người thuộc các giáo phái này khi qua Công giáo không phải rửa tội lại. Những người thuộc giáo phái khác thì phải rửa tội lại. Tuy nhiên, phân biệt giáo phái nào được Giáo Hội Công giáo không nhận, giáo phái nào không được công là điều khó, đặc biệt là ở Việt Nam. Cho nên, theo Hội Đồng Giám Mục Việt nam, bất cứ ai là người Tin Lành sang Công giáo đều phải được thanh tẩy lại. Còn anh em Tin Lành, họ không công nhận bí tích rửa tội của chúng ta. Nếu ai bỏ Công giáo sang Tin Lành, thì phải rửa tội lại. Điều này cho thấy họ  tin rằng Chúa Giêsu lập bí tích Rửa Tội, nhưng họ không nhìn nhận việc Chúa Giêsu lập các bí tích khác. Họ cho rằng Công giáo tự đặt ra rồi gán cho Chúa Giêsu, chứ không có bằng chứng nào chứng minh Chúa Giêsu lập bí tích đó. Giáo Hội Công giáo khẳng định tất cả bảy bí tích của Giáo Hội Công giáo là do chính Chúa Giêsu lập. Ngài không lập một cách trực tiếp. Nhưng Ngài truyền cho Giáo Hội lập. Giáo hội chỉ làm theo ý Chúa Giêsu. Điều này được chứng minh rất thuyết phục qua Kinh Thánh.


II.  CHÍNH CHÚA GIÊSU LẬP CÁC BÍ TÍCH.

Thứ nhất: Bí tích Rửa tội.



Bí tích được Chúa Giêsu thiết lập qua lệnh truyền của Ngài với các tông đồ. Ngài truyền cho các tông đồ và cũng là truyền cho Giáo Hội: “(19)Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Ngài nhấn mạnh việc chịu phép rửa rất quan trọng, vì đây là điều kiện để được ơn cứu độ như Lời Ngài nói với ông Nicôđêmô: "Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3, 5). Do đó, Giáo Hội rất chú trọng việc loan báo Tin Mừng và đưa nhiều người gia nhập Giáo Hội qua Bí tích rửa tội. Chúng ta thấy rõ điều này trong ngày lễ Ngũ Tuần. Với sự tác động của Chúa Thánh Thần và lời rao giảng của các Tông đồ, ngày hôm ấy có khoảng ba ngàn người chịu bí tích Thánh tẩy. Điều này cho thấy tính chính thống của bí tích Thánh tẩy. Tất cả các Giáo Hội trong Kitô giáo đều nhìn nhận bí tích rửa tội là do Chúa Giêsu lập.

Thứ hai: Bí tích Thêm sức.



Bí tích này được cử hành để ban Chúa Thánh Thần. Khi còn ở trần gian, nhiều lần Chúa Giêsu đề cập đến Chúa Thánh Thần: “Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em; Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Ðấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em, nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Ðấng ấy đến với anh em” (Ga 16, 7).
Và Chúa Giêsu đã thực hiện điều này. Sau khi Ngài về trời, Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ. Các tông đồ tràn đầy Chúa Thánh Thần. Điều này cho thấy chính Chúa Giêsu muốn ban Thánh Thần cho các tông đồ và qua các tông đồ, Ngài muốn ban Thánh Thần cho mọi người. Hiểu được điều này, các tông đồ đã đặt tay ban Thánh Thần cho các tín hữu.
Sách Công vụ tông đồ kể lại khi thánh Phaolô ở Côrintô, ngài gặp một số môn đệ và hỏi họ: "Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa?" Họ trả lời: "Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói". (3)Ông hỏi: "Vậy anh em đã được chịu phép rửa nào?" Họ đáp: "Phép rửa của ông Gioan. (4)Ông Phaolô nói: "Ông Gioan đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Ðấng đến sau ông, tức là Ðức Giêsu". (5)Nghe nói thế, họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. (6)Và khi ông Phaolô đặt tay trên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri” (Cv 19, 1-6).
Ở đây chúng ta thấy thánh Phaolô đã cử hành hai bí tích: bí tích Thánh tẩy và bí tích Thêm Sức. Qua bí tích Thêm sức, ngài ban Thánh Thần. Ngày nay, Giáo Hội, qua các giám mục là các đấng kế vị tông đồ ban bí tích Thêm Sức cho chúng ta. Qua bí tích Thêm Sức, chúng ta được lãnh nhận chính Chúa Thánh Thần. Việc Giáo Hội ban Thánh Thần cho chúng ta là làm theo ý của Chúa Giêsu. Bởi lẽ chính Chúa Giêsu muốn ban Thánh Thần cho chúng ta. Việc ban Thánh Thần này được thực hiện qua bí tích Thêm sức. Điều này cho thấy Chúa Giêsu muốn thực hiện bí tích Thêm Sức. Nói khác đi, Ngài là tác giả của bí tích Thêm Sức.

Thứ ba: Bí tích Thánh Thể.


Bí tích này được Chúa Giêsu lập vào bữa tiệc ly: “(26)Đang bữa ăn, Ðức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy". (27)Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này,(28)vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26, 26-28).

Ở đây chúng ta thấy việc Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể đã quá rõ. Ngài truyền cho bánh thành mình Ngài. Rượu thành máu Ngài. Nghĩa là bánh và rượu đã được biến đổi thật sự thành thịt và máu Chúa. Giáo Hội chỉ làm lại cử chỉ mà Chúa Giêsu đã làm. Điều này cho thấy Chúa Giêsu chính là tác giả của bí tích Thánh Thể.

Thứ Bốn:  Bí tích giải tội.



Bí tích này do chính Chúa Giêsu lập vào ngày phục sinh. Ngài hiện ra với các tông đồ: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23)Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20, 22-23).

Đoạn Kinh Thánh trên khẳng định Chúa Giêsu trao quyền cho Giáo Hội. Muốn được tha tội thì phải đến với Giáo Hội, cụ thể là đến với các linh mục. Trên thực tế, nhiều người giáo dân ở những nơi không có linh mục. Thế là họ phải xưng tội trực tiếp với Chúa. Trong trường hợp đó, họ cũng được tha. Bởi lẽ, Chúa ở trên Giáo Hội. Khi có Giáo Hội, Chúa ban ơn tha thứ qua Giáo Hội. Khi không có Giáo Hội, Chúa tha thứ trực tiếp.

Anh em Tin Lành thì xưng tội trực tiếp với Chúa, chứ không qua trung gian. Chúng ta tôn trọng họ. Còn chúng ta lãnh nhận bí tích giải tội qua Giáo Hội là chúng ta sống đúng thánh ý Chúa. Bởi lẽ chính Chúa ban quyền tha tội cho Giáo Hội. Nói khác đi, chính Chúa lập bí tích Giải tội.

Thứ năm: Bí tích Xức dầu thánh.



Thật khó có thể xác định Chúa Giêsu lập bí tích này lúc nào. Chỉ biết rằng trong cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu, Ngài rất thương các bệnh nhân, Ngài thường làm phép lạ để cứu giúp các bệnh nhân. Khi sai các tông đồ đi rao giảng, Ngài ban cho các tông đồ quyền chữa lành bệnh tật qua việc xức dầu: “Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh” (Mc 6, 13). Điều này cho thấy bí tích Xức dầu được các tông đồ cử hành ngay từ khi Chúa còn ở trần thế để chữa lành bệnh tật. Chắc chắn đây không phải là sáng kiến của các tông đồ, mà là do lệnh truyền của Chúa Giêsu.

Có thể nói chính Chúa Giêsu đã truyền cho các tông đồ cử hành bí tích này. Nói khác đi, chính Chúa Giêsu lập bí tích này.

Sau khi Chúa về trời, các tông đồ tiếp tục cử hành bí tích này cho các bệnh nhân. Điều này được ghi trong thư Giacôbê: “Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa” (Gc 5, 14). Như vậy, bí tích Xức dầu đã được cử hành trong Giáo Hội sơ khai. Ngày nay, Giáo Hội thực hiện việc cử hành bí tích Xức dầu cho những người bệnh. Điều này cho thấy Giáo hội chỉ làm lại những việc các tông đồ làm. Các tông đồ làm những việc này là do ý muốn của Chúa Giêsu. Như vậy, chính Chúa Giêsu thật sự là Đấng lập bí tích Xức dầu.

Thứ sáu: Bí tích Truyền chức thánh.



Bí tích này được Chúa Giêsu thiết lập vào bữa Tiệc Ly cùng với bí tích Thánh Thể. Ngài nói với các tông đồ: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11, 23-25).

Đoạn Kinh Thánh trên chứng minh Chúa Giêsu muốn Giáo Hội cử hành bí tích Thánh Thể. Để cử hành bí tích Thánh Thể, Giáo Hội cần các thừa tác viên có chức thánh. Để có thừa tác viên có chức thánh, Giáo Hội phải truyền chức. Điều này cho thấy bí tích Truyền chức có mối liên hệ mật thiết với việc cử hành Thánh Thể. Việc cử hành Thánh Thể xuất phát từ ý muốn của Chúa Giêsu. Việc này kéo theo bí tích truyền chức. Như vậy, bí tích truyền chức xuất phát từ ý muốn của Chúa Giêsu. Nói khác đi, Chúa Giêsu là tác giả của bí tích Truyền chức. Ngài lập ra bí tích Truyền chức.

Thứ bảy: Bí tích Hôn phối.



Bí tích này được Chúa Giêsu lập khi người Pharisêu hỏi Ngài: "Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?" (4)Người đáp: "Các ông không đọc thấy điều này sao: "Thuở ban đầu, Ðấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ", (5)và Người đã phán: "Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt". (6)Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly" (Mt 19, 3-6).

Đoạn Kinh Thánh trên cho thấy sự liên kết giữa người nam và người nữ là do Thiên Chúa. Sự liên kết này phải được thể hiện công khai bằng bí tích hôn phối, qua đó hai người nam nữ được liên kết nên một. Việc liên kết hai người nam nữ nên một là do chính Thiên Chúa. Việc này chỉ có thể thực hiện qua bí tích hôn phối. Như vậy, chính Thiên Chúa, nói rõ hơn là chính Chúa Giêsu lập bí tích Hôn phối.


III. ĐỐI CHIẾU ĐỜI SỐNG TỰ NHIÊN VỚI CÁC BÍ TÍCH.

1. Việc được sinh ra trong đời sống tự nhiên với Bí tích Rửa Tội: Trong đời sống tự nhiên, tất cả chúng ta đều được sinh ra. Trong đời sống siêu nhiên cũng vậy. Chúng ta phải được sinh lại bởi Trên qua bí tích Thánh Tẩy. Nghi thức chính yếu của Bí tích này là việc đổ nước và lời đọc: Cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, qua đó Chúa tha tội nguyên tổ và các tội chúng ta phạm, sáp nhập chúng ta vào Hội Thánh, ghi vào tâm hồn chúng ta dấu ấn thiêng liêng không thể xóa được, đặc biệt là làm cho ta trở nên con Thiên Chúa.

2. Việc lớn lên trong đời sống tự nhiên với Bí tích Thêm Sức.
Trong đời sống tự nhiên, chúng ta không mãi mãi là trẻ nhỏ. Mỗi ngày chúng ta được lớn lên. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy. Mỗi ngày chúng ta cần phải được lớn lên trong ân sủng. Bí tích Thêm sức ban cho chúng ta mỗi ngày một lớn lên trong ân sủng. Nghi thức chính yếu của bí tích này gồm có: Việc giám mục đặt tay cầu nguyện; xức dầu trên trán và đọc: “Hãy nhận lấy ấn tín ơn Chúa Thánh Thần; chúc bình an.

3. Việc được nuôi sống bằng lương thực phần xác và Bí tích Thánh Thể.
Trong đời sống tự nhiên, chúng ta cần phải ăn mới sống.Trong đời sống siêu nhiên cũng vậy. Chúng ta phải được nuôi dưỡng bằng bí tích Thánh Thể. Bí tích này được Chúa Giêsu lập, ban Mình Máu Ngài làm của ăn nuôi sống linh hồn ta, ở lại với ta và biến đổi ta nên giống Ngài. Nghi thức chính yếu của bí tích này là lời truyền phép của linh mục “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em…”, “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước mới cho các con và nhiều người được tha tội” (1Cr 11, 23-25). Qua lời truyền phép, bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Kitô để làm của ăn nuôi sống chúng ta.

4. Việc chữa bệnh phần xác và Bí tích Giải tội.
Trong đời sống tự nhiên, ai trong chúng ta cũng từng mắc bệnh. Khi mắc bệnh, chúng ta cần phải được chữa bệnh. Trong đời sống siêu nhiên cũng vậy, ai trong chúng ta cũng có tội. Khi có tội chúng ta cần lãnh nhận bí tích giải tội để được tha tội. Nghi thức chính yếu của bí tích giải tội là việc chúng ta xưng thú tội lỗi và linh mục đọc lời tha tội. Qua đó, Chúa tha thứ tội lỗi cho chúng ta.

5. Việc già yếu và Bí tích Xức dầu bệnh nhân.
Trong đời sống tự nhiên, chúng ta phải trải qua qui luật sinh, lão, bệnh, tử. Nghĩa là ai trong chúng ta cũng phải già đi, yếu đi. Bí tích xức dầu nâng đỡ chúng ta về phần hồn cũng như phần xác. Nhiều trường hợp bệnh nhân được khỏe lại nhờ lãnh nhận bí tích xức dầu. Tuy nhiên bí tích xức dầu nhắm đến phần hồn nhiều hơn, đó là ban ơn nâng đỡ để bệnh nhân có thể chịu được những đau đớn của bệnh tật, giúp bệnh nhân kết hợp đau khổ với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, ban ơn tha thứ nếu vì lý do chính đáng nào đó mà bệnh nhân chưa lãnh nhận bí tích giải tội và chuẩn bị cho “cuộc vượt qua” sang cõi sống đời đời. Nghi thức chính yếu của bí tích này là lời đọc: “Nhờ việc xức dầu thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu của Chúa, xin Chúa dùng ơn Chúa Thánh Thần mà giúp đỡ ông (bà, anh, chị, em…). Đáp: Amen. Để Người giải thoát ông (bà, anh, chị, em…) khỏi mọi tội lỗi, cứu chữa và thương làm cho ông (bà, anh, chị, em…) được thuyên giảm.

6. Việc lãnh đạo xã hội và Bí tích Truyền chức thánh.
Trong xã hội, cần có những người lãnh đạo để chăm lo đời sống người dân. Trong Giáo Hội cũng vậy, cần có những vị lãnh đạo để chăm lo cho cộng đoàn. Những vị này được Giáo Hội phong chức để thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng, cử hành các bí tích và phục vụ cộng đoàn. Nghi thức chính yếu của việc phong chức là việc giám mục đọc lời nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần, việc đặt tay trên đầu các tiến chức và lời nguyện phong chức.
Ngoài bí tích Truyền chức thánh được ban cho Giáo Hội để lãnh đạo cộng đoàn, còn có nghi thức khấn dòng dành cho những người sống đời tận hiến cho Chúa. Đây không phải là bí tích nhưng có giá trị rất đặc biệt, qua đó những người tận hiến cho Chúa dâng trọn đời mình để phục vụ Chúa và tha nhân.

7. Đời sống của người dân và Bí tích Hôn phối.
Trong xã hội, thành phần đông nhất và góp phần rất tích cực trong việc xây dựng xã hội là người giáo dân. Trong đời sống siêu nhiên cũng vậy, thành phần tích cực làm cho Giáo Hội lớn mạnh chính là những người giáo dân. Phần đông trong giáo dân là những người sống đời hôn nhân. Để bước vào đời sống hôn nhân, đôi bạn nam nữ phải cử hành bí tích hôn nhân. Qua bí tích hôn nhân đôi bạn nam nữ được Chúa kết hợp thành vợ chồng trước mặt Chúa và Hội Thánh, cùng ban cho họ sống xứng đáng ơn gọi của mình. Nghi thức chính yếu của bí tích hôn phối là đôi bạn nói lời ưng thuận và trao nhẫn.
Tóm lại, các Bí Tích có tầm quan trọng rất lớn đối với chúng ta. Mọi giai đoạn của cuộc đời chúng ta đều gắn liền với các bí tích. Chúng ta cần có thái độ trân trọng đối với các bí tích, lãnh nhận các bí tích với tất cả tấm lòng và thường xuyên lãnh nhận bí tích Hòa giải và Thánh Thể, đặc biệt là cố gắng sống xứng đáng với các bí tích mà mình lãnh nhận.
 
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Nguyễn Quốc Thắng
Nguồn tin: Gx. Bình Đông

Con Số 40 Trong Kinh Thánh

Con Số 40 Trong Kinh Thánh
Chúng ta nghe nhắc đến con số 40 nhiều lần trong Kinh Thánh.
- Trong câu chuyện lụt Đại Hồng Thủy thời ông Noê, trời mưa ròng rã suốt 40 đêm ngày (St 7:4, 12, 17; 8;6).
- Ông Môisê sau khi lập giao ước với Yavê tại núi Sinai, đã ở lại với Ngài tại đó trọn 40 ngày (XH 24:18).
- Tiên tri Êlia khi bị hoàng hậu Jezebel cho quân lính lùng bắt, đã phải trốn vào sa mạc và đi suốt 40 ngày đêm để tới núi Horeb (1 Vua 19:8).
- Tiên tri Giôna cho dân thành Ninivê thời hạn 40 ngày để ăn năn sám hối.
- Trong Tân Ước, Chúa Giêsu chịu cám dỗ suốt 40 ngày đêm trong sa mạc; và Ngài lên trời 40 ngày sau khi phục sinh (Cvtđ 1:3).

Đọc sách Dân Số, ta thấy khi Dân Do Thái về gần đến Đất Hứa, ông Môisê sai một toán người đi do thám để xem tình hình tại đó thiên thời địa lợi ra sao. Sau 40 ngày nghiên cứu tình hình họ trở về và tường thuật rất tỉ mỉ những gì đã thấy và còn mang theo cả những hoa trái của vùng đất mà họ gọi là tràn trề sữa và mật. Họ kể thêm rằng thành thị ở đó kiên cố và rộng lớn, dân chúng có vóc dáng to lớn khổng lồ, còn mình thì chỉ nhỏ bé như châu chấu. Nghe những gì họ tường thuật, dân Do Thái trở nên sợ hãi và nhất định không muốn vào miền đất ấy nữa mặc dù điều đó chứng tỏ họ không tin tưởng nơi lời hứa của Yavê. Vì thế họ đã bị phạt phải cực khổ đi trong sa mạc suốt 40 năm, mỗi năm bị phạt tương ứng với 1 ngày của toán đi do thám.

Câu chuyện tuy có thể gây cho ta một cảm nghĩ tiêu cực về sự nghiêm khắc của Yavê nhưng thật ra lại giúp truyền đạt một ý nghiã trừu tượng. Con số 40 mang ý nghĩa gì?

Một mặt con số 40 tượng trưng cho số nhiều, nói lên một khoảng thời gian dài dù là 40 ngày hay 40 năm. Mặt khác nó cũng nói lên những ý nghĩa sâu xa bên trong con số 40 đó. Những gì xảy ra trong khoảng thời gian đó có thể là sự kiên nhẫn, sự thử thách, sự phấn đấu.

Nhưng đáng kể nhất, con số 40 mang ý nghĩa thời gian chuẩn bị để đón nhận ơn sủng của Thiên Chúa:

- Sau nạn lụt Hồng Thủy một dòng dõi mới được tạo lập.
- Sau thời gian gặp gỡ giữa Yavê và Môisê một giao ước mới được thành lập.
- Sau 40 năm lang thang trong hoang địa dân Chúa được vào Đất Hứa.
- Sau 40 ngày ăn chay dân thành Ninivê trở lại với Thiên Chúa.
- Sau hành trình lên núi Hôreb, Êlia được Chúa tăng sức và trở lại sứ mạng của mình.
- Sau thời gian cầu nguyện và chịu cám dỗ trong sa mạc, Chúa Giêsu tràn đầy Thánh Thần bắt đầu loan báo Tin Mừng
- Và khi Ngài về trời sau 40 ngày phục sinh, Giáo Hội được khai sinh và bước vào giai đoạn truyền giáo.

Riêng chúng ta, 40 ngày Mùa Chay là thời gian chuẩn bị tâm hồn để được hân hoan đón nhận ơn sủng Phục Sinh.
VTL