Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Các bài suy niệm Chủ nhật Lễ Lá

1/ Chúa Nhật Lễ Lá A - Chén Đắng
Suy niệm bài Thương Khó, chúng ta nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã yêu thương và thí mạng vì yêu chúng ta.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,10)
Tổ tiên của loài người ông Ađam và bà Evà đã bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa. Nguyên tổ đã nghe theo sự cám dỗ của ma quỉ và phạm tội. Thánh Phaolô viết rằng:Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính (Rm 5,19).Thiên Chúa đã chọn một hướng đi mới cho số phận của loài người. Sách Sáng Thế Ký đã truyền đạt ý định của Thiên Chúa: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (Stk 3,15). Để chuộc lại lỗi lầm của nguyên tổ, Thiên Chúa đã có chương trình cứu độ trải dài qua thời gian. Thiên Chúa đã chọn tổ phụ Abraham và từ đó sinh ra một dân tộc để đón nhận ơn cứu độ. Lịch sử trông chờ ơn cứu độ đã trải dài cả ngàn năm. Đôi khi chúng ta tự hỏi, Thiên Chúa quyền phép vô cùng, tại sao Thiên Chúa phải chờ đợi và tùy thuộc sự đáp trả tự do của con người?

Thiên Chúa đã chọn con đường tiệm tiến để mạc khải ý định của Ngài. Những dấu chỉ đã dần dần xuất hiện qua hành trình biến đổi và ý thức hệ. Thiên Chúa chuẩn bị tinh thần dân Chúa để đón nhận mầu nhiệm một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi riêng biệt. Mầu nhiệm lịch sử cứu độ được hé mở từ từ và sẽ được hoàn tất nơi chính Con Một của Thiên Chúa. Qua đó, chúng ta nhận biết tội nguyên tổ nghiêm trọng đến dường nào. Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến nỗi đã phải sai Con duy nhất xuống để chuộc tội cho nhân loại. Hình ảnh được vén mở cho dân Do-thái ngỗ nghịch và cứng lòng: Chúa liền nói với ông: "Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống”. Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống (Ds 21, 8-9).

Đấng Thánh của Thiên Chúa sẽ phải mang thân phận của một tôi tớ đau khổ. Tiên tri Isaia đã diễn tả hình ảnh của Đấng sẽ phải hy sinh đền tội cho nhân loại: Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề (Is 53,5). Ngài sẽ phải chịu thiệt thòi và khổ đau để chữa lành thương tích mà loài người đã gây nên. Chính Ngài sẽ đem lại sự bình an và hạnh phúc cho con người: Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành (Is 53,6).

Chúa Giêsu biết trước con đường thánh giá Ngài phải đi qua. Chúa đã từng bước mặc khải mầu nhiệm cứu độ cho các tông đồ. Chúa Giêsu phải đối diện với tất cả những sự dữ và tội lỗi do con người gây nên. Từ những nhục nhã nơi tâm hồn đến những khổ đau nơi thân xác. Người ta gán ghép cho Chúa những sự xấu xa nhất như người mất trí, kẻ ham ăn uống, cùng phường kẻ tội lỗi, kết hợp với tướng qủy để trừ qủy, nói lộng ngôn phạm thượng, lỗi phạm lề luật ngày Sabbat và là người phá rối trị an dân nước. Về phân xác, Chúa bị xua đuổi, lập mưu xô xuống vực, bị bắt, đánh đòn, đội mũi gai, lột trần, vác thập giá, xô đẩy, qụy ngã trên đường, bị đóng đinh trên thập giá và chết trần trụi. Không còn khổ đau nào hơn mà Chúa không chịu. Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Hípri là Gôngôtha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa (Ga 19,17-18). Chỉ còn mảnh vải che thân cũng bị quân lính lột ra chia chác cho nhau. Còn sự xấu hổ nào hơn, khi Con Thiên Chúa chịu trần trụi nhục nhã treo trên thập giá. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau, xem ai được cái gì (Mc 15,24).

Muốn được vinh quang sự sống lại, chúng ta phải bước theo con đường thánh giá khổ đau. Khi xưa, hai anh em Gioan và Giâcôbê muốn được đi đường tắt đến vinh quang hưởng phước để được ngồi bên tả và bên hữu Chúa, nhưng Chúa đã nhắc khéo: Đức Giêsu bảo: "Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10,38). Dù hai anh em chưa thông hiểu trọn vẹn ý của Chúa, các ông hoàn toàn phó thác vào sự quan phòng của Chúa. Các ông đáp: "Thưa được”. Đức Giêsu bảo: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10,39).Hai vị tông đồ này giữ lời đã hứa. Hai vị cũng đã hy sinh cuộc đời theo Chúa đến cùng và đạt được triều thiên vinh quang sự sống.

Chén đắng của Chúa Giêsu trở thành chén đắng cho các tông đồ. Chén đắng được Chúa chúc phúc cho những ai muốn theo và làm môn đệ của Chúa. Chúa Giêsu không hứa một con đường thênh thang rộng rãi để tiến về nước trời. Chúa mời gọi chúng ta đi qua cổng hẹp và qua con đường khổ giá để vào Nước Hằng Sống. Chúa Giêsu nhắn nhủ một cách chân tình: Bấy giờ, người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy (Mt 24,9). Đạo Chúa thật lạ lùng, Chúa chúc phúc cho những người bị vu khống và bị bách hại. Tư tưởng này xem ra bị dị ứng cho nhiều người thời nay. Có nhiều người coi sự bách hại là một nguy cơ phá hủy Hội Thánh hơn là tìm cõi phúc trường sinh.  Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa (Mt 5,11).

Trong cuộc đời, ai cũng muốn sống bình an, thư thái và nhẹ nhàng. Chúng ta ngại ngùng đối diện và sống theo lời chúc phúc của Chúa. Sự vu khống, bách hại, thù ghét được nhìn dưới khía cạnh xã hội là bất công, cho nên không còn được con người chấp nhận. Chúng ta tự hỏi: Con đường thánh giá Chúa đã đi và Lời của Chúa hứa có còn thích hợp nữa không?Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,10).Chúng ta cầu nguyện, tranh thủ và phấn đấu để được sự hòa bình và công lý. Chúng ta đang cố gắng tìm hạnh phúc của nước trần gian. Điều này cũng thật chính đáng. Nhưng Chúa Giêsu nhấn mạnh: Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy (Mt 10, 38). Vác thập giá đi theo Chúa là chấp nhận mọi thử thách trên đường đời để làm nhân chứng cho sự thật. Ai cũng có thánh giá phải mang, phải vác. Có nhiều người vác thánh giá mà không theo Chúa. Họ tự mang vác gánh nặng cuộc đời và vật lộn với khổ đau bất hạnh.

Những ai biết cùng vác thánh giá với Chúa sẽ tìm được nguồn ủi an nâng đỡ và đường thánh giá sẽ dẫn đến sự sống. Chúa Giêsu không chỉ hứa hạnh phúc đời sau mà ngay cả đời này cũng được phần thưởng gấp bội nữa. Chúa Giêsu đã hứa: Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp (Mt 19,29). Thánh Phaolô trong thơ gơi cho giáo đoàn Galata đã nhắn nhủ:Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê (Gal 5,24). Chúa Giêsu xây dựng đền thờ trong tâm hồn mỗi người và Chúa dẫn dắt chúng ta đến sự sống muôn đời. Sự sống của Nước Chúa không thuộc về thế gian này.

Chúa Giêsu đòi hỏi rất cao và dứt khoát trong chọn lựa. Chúng ta không thể làm tôi Thiên Chúa và làm tôi tiền của. Mạng sống là ân huệ Chúa trao ban, chúng ta có bổn phận phải gìn giữ, tập luyện, nuôi dưỡng và thăng hoa sự sống mình. Thánh Phaolô đã tuyên xưng: Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình (2 Cor 5,15). Chúng ta không có quyền tiêu diệt sự sống. Sự sống của chúng ta ở trong tay Chúa quan phòng. Khi chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta thuộc về Chúa và sống cho Chúa. Thánh Phaolô đã xác tín rằng: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi (Gal 2,20). Chúng ta mang danh là Kitô hữu, có nghĩa là chúng ta đã thuộc về Chúa Kitô trong mọi sự.

Ai cố gắng giữ mạng sống mình thì sẽ mất. Đúng thế, chúng ta không thể thay đổi được số mệnh của mình. Chúng ta cũng chẳng bảo đảm ngày mai ra sao và tương lai thế nào. Sống mỗi ngày là một ngày mới trong ước mơ và hy vọng. Niềm hy vọng chắc chắn nhất là đặt niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại. Chúa Giêsu phán: Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được (Mt 10,39).

Những tâm tình trong Tuần Thánh, chúng ta không xét đoán những người đã tham gia vào cuộc xử án và kết án Chúa. Tất cả những giới chức lãnh đạo như quan Philatô, Hêrôđê, các Sĩ quan, các Thượng tế, Luật sĩ, Biệt phái, các quân lính, dân chúng hô hào đánh đập và phỉ báng Chúa. Chúng ta cũng không nên xét hỏi Giuđa đã bán Chúa, Phêrô chối Chúa, các Tông đồ bỏ trốn và các người thân cận xa tránh. Chúa Giêsu đã hoàn tất chương trình cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã trao phó. Chúa đã mở con đường cứu độ dẫn tới sự sống qua cái chết của Ngài. Thánh Phaolô ghi nhận: Thật vậy, Người đã chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn, nhưng nay Người đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa (2 Cor 13,4).

Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ và ngợi khen tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Khi cầu nguyện là chúng ta thưa truyện với Chúa. Đọc và nghe lời Chúa là Chúa đang nói với chúng ta. Suy niệm bài Thương Khó, chúng ta nhận ra tình yêu bao la của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã yêu thương và thí mạng vì yêu chúng ta. Chúa Giêsu đã phán: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).

Lm. Giuse Trần Việt Hùng
BronxNew York

____________
Nguồn : 
Với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, Giáo Hội mời gọi ta bước vào Tuần Thánh. Tuần Thương Khó Đức Giêsu Kitô Chúa Chúng ta đã bắt đầu.
Hôm nay Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, mang lại Ơn Cứu Độ cho con người. Nhìn bề ngoài, việc tiến vào thành Giêrusalem giữa đám đông dân chúng nô nức phất cao cành lá, giữa tiếng tung hô vang dội: “Hoan hô Con Vua Đavít”. Điều này có vẻ như là một cuộc vinh quang toàn thắng. Nhưng thực ra đây lại là việc mở màn cho cuộc Thương Khó.  Đây cũng là một việc mỉa mai nhất vì hôm nay dân chúng giơ cao tay tung hô chúa, nhưng chỉ mấy ngày sau, cũng chính những cánh tay ấy lại được giơ cao để hò hét lên án Chúa.  Và có lẽ đây cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó.  Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của dân chúng, đã chất chứa một sức phản bội với những tiếng kêu gào và những bàn tay nắm chặt đưa lên cao: “Đả đảo! đả đảo! Đóng đinh nó vào Thập giá!”
Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm. Đi theo Chúa giữa lúc Ngài bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó còn khó hơn nhiều. Tin Mừng không thấy nói đến một người nào dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu, mà chỉ thấy người ta bênh vực cho Baraba, lên tiếng đòi phóng thích cho tên trộm cướp mà thôi.
Nếu người kitô được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có nhiều cảm nghiệm về những khó khăn vất vả trên đường theo Chúa. Con đường bước đi theo Chúa có lúc vui, lúc buồn. Chắc hẳn ta phải có mặt trong đám đông hoan hô Chúa khi Ngài vào thành Giêrusalem, và cũng không thể vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.  
Hãy thử bình tâm để hỏi lại lòng mình: Nếu tôi sống tại Giêrusalem trong thời Chúa Giêsu , tôi sẽ là ai ? Sẽ đứng trong nhóm người nào? Tôi sẽ có thái độ nào trước bản án của Giêsu? Tôi sẽ là Simon vác đỡ thánh giá cho Chúa ? Sẽ là Phêrô chối Chúa ? Sẽ là Giuda bán Chúa ? Sẽ là Philatô dửng dưng rửa tay trước kẻ vô tội ? Sẽ là các vị thương tế và kinh sư âm mưu cáo gian để kết án Chúa? Sẽ là những người dân thấp cổ bé miệng, bị thúc dục và lôi kéo vào trong đám đông để hò hét “ Giết! Giết!! Giết nó đi!!! Hãy đóng đinh nó vào thập giá!
Bạn thân mến! Trong tuần thánh nầy, mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy dành thời giờ để đọc lại một cách chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.  Hãy canh thức với Chúa trong vườn Cây Dầu.  Hãy bước đi theo Ngài qua từng chặng đường, từ tòa án đạo đến tòa án đời.  Hãy cùng đi với Ngài, cùng vác với Ngài cây thập tự của chính mình để cùng đi với Ngài ra pháp trường, và hãy ở lại thật lâu với Ngài trên Núi Sọ… Đừng theo Chúa như một người xa lạ, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì bạn và tôi.  Bởi lẽ Ngài thương yêu ta, hy sinh mạng sống của Ngài vì ta…  
Trong cuộc khổ nạn của Chúa, ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của cuộc đời: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết..v..v..  Nhưng trên hết, ta gặp được một tình yêu. Tình yêu vô cùng lớn lao của Chúa Giêsu dành cho Chúa Cha và nhân loại.  Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau trở thành giá trị cứu độ. Vậy ta hãy cảm nếm thật sâu nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng đừng quên nhận ra tình yêu bao la tiềm ẩn trong từng phản ứng, từng lời nói của Ngài.
Ước gì ta có thể đón nhận những gai góc của cuộc đời với thái độ của Chúa Giêsu. Càng suy nghĩ về cuộc khổ nạn, ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, càng yêu thánh giá của mình hơn và càng kính trọng thánh giá của người khác nhiều hơn.
Hãy cảm nghiệm sâu xa tình yêu bao la của Giêsu dành cho đời ta. Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Ngài thấm nhuần và biến đổi đời ta. Bạn nhé !

***

Lạy Chúa Giêsu,
Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Cây Dầu, xin ban cho con sức mạnh để đối diện với những khó khăn vất vả trong cuộc sống.
Vì Chúa chịu sỉ nhục và bị nhạo báng, xin cho con luôn biết khiêm nhượng và vâng phục.
Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề , xin cho con biết noi gương bắt chước Chúa, biết can đảm chấp nhận vác lấy thập giá của đời mình.
Vì Chúa bị lột áo, xin cho con biết cởi bỏ những đam mê yếu hèn của kiếp người, biết mặc lấy tâm tình thống hối và yêu thương.
Vì Chúa bị đóng đinh, xin cho con đóng đinh tính xác thịt của con vào thánh giá Chúa. 
Vì Chúa đã giang tay chết trên thập giá, xin cho con biết qúy trọng Ơn Cứu Độ vì Chúa đã chết để cho con được sống, để con được hưởng nhờ Ơn Tái Sinh mà Chúa đã hứa ban, Amen .
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Isaiah 50:4-7 - BĐ2: Phil 2:6-22 - PÂ: Mc.14,1-15.47)
 Nguồn : 


Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

Nguồn gốc Tháng kính Thánh Giuse


______________

NGÀY 19 - LỄ KÍNH THÁNH CẢ GIUSE BẦU CỬ,BỔN MẠNG HỘI THÁNH CÔNG GIÁO VÀ NƯỚC VIỆT NAM


Thánh Giuse thuộc dòng tộc Đavit. Người được chọn làm cha nuôi Chúa Giêsu cách đặc biệt.
Phúc Âm nói ít về ngài, chỉ cho biết Ngài là "Người công chính", nghĩa là người thánh.  Các thánh đều công nhận ngài cao trọng hơn hết các thánh. Cũng như Mẹ Maria, ngài đã khấn giữ mình đồng trinh, và ngài đã sống thanh khiết trọn hảo cho đến chết. Theo thánh Giêrônimo, thánh Giuse kết hôn với Đức Maria là để gìn giữ danh giá cho Đức Trinh Nữ trước mặt thế gian, và Chúa muốn giữ kín việc truyền tin cho Đức Mẹ đối với thánh Giuse cho đến ngày thánh nhân buồn sầu định trốn đi, là để cho chúng ta thấy rõ lòng trinh sạch của các ngài, nên khi nghe sứ thần bảo :" Này ông Giuse, là con vua Davit, đừng ngại đón nhận Maria là vợ ông về nhà mình, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần". (Mt.1:20).
Thánh nhân đã sẵn sàng rước Đức Maria về, và từ đó, ngài càng kính nể, quí mến bạn mình hơn, vì ngài đã biết việc Thiên Chúa thực hiện nơi Maria và vì bà sẽ sinh Đấng Cứu Thế muôn dân mong đợi.            Điều đó chứng tỏ thánh nhân là người công chính, thánh thiện, luôn luôn tuân hành ý Chúa, hoàn toàn tin tưởng phó thác nơi Chúa.
Ở Nazareth thánh nhân luôn sống ẩn dật, làm nghề thợ mộc, âm thầm lo lắng cho Đức Mẹ và Chúa Hài Nhi.
Ngày Chúa Giêsu bắt đầu cuộc sống công khai là ngày chấm dứt sứ mạng của Ngài.  Ngài êm ái trút hơn thở cuối cùng trong tay Chúa và Mẹ. 
Hàng năm Giáo hội mừng kính Ngài hai lễ riêng biệt : Ngày 19 tháng 3 kính thánh Giuse cha nuôi Chúa Giêsu, và là bạn thanh khiết Đức Mẹ và là quan thầy bầu cử cho Giáo hội (Đức Piô 11 chọn).  Ngày 1 tháng 5 kinh thánh Giuse lao động là quan thầy giới lao công.
Theo sách Truyện Đức Mẹ dạy Chân phúc Agreda, Thiên Chúa đã ban cho Thánh Cả rất nhiều đặc ân để Thánh Cả cứu trợ những ai đến xin Thánh Cả cầu bầu. Đặc biệt là Thánh Cả hay ban xuống 7 ơn này:
1/ơn lướt thắng những chước cám dỗ trái nghịch đức khiết tịnh,
2/ơn được sám hối từ bỏ đường tội lỗi,
3/ơn tôn sùng Mẹ Đồng Trinh Rất Thánh Maria,
4/ơn được khỏe mạnh phần xác,
5/ơn được an ủi nâng đỡ  lúc sầu khổ,
6/ ơn được chết lành,
7/ và ơn được có con nối dòng trong các gia đình công giáo.
Quỉ dữ rất sợ Tên Thánh Cả Giuse.
Chúng ta hãy chạy đến cùng thánh cả, vì ngài rất có thần thế trước mặt Chúa, chắc chắn ngài không từ chối lời ta cầu xin.
Truyện thánh
Thánh nữ Têrêsa Avila  (1515-1582) là vị cải tổ Dòng Carmelô.  Bà đã thành lập 18 đan viện Carmelô cải cách và  giúp  thánh  Gioan Thánh Giá lập 13 Dòng nam Carmelô.  Năm 1970 bà được phong Tiến Sĩ Hội Thánh cùng với thánh nữ Catarina Sienna.  Đoạn văn sau đây trích từ cuốn Tự Truyện  bà viết do đức vâng lời,  liên hệ đến thời kỳ ba năm bà bị bệnh bất toại (22-24 tuổi).  Môt tài liệu quí giá để chúng ta thâm tín hơn về việc sùng kính Thánh Giuse.
            "Thấy mình còn trẻ mà bị bất toại,  lại thấy tình trạng đáng buồn do các y sĩ trần gian đưa đẩy tôi vào,  tôi quyết định chạy đến cùng các y sĩ trên trời để được khỏi bệnh....
            Tôi nhận Thánh Giuse vinh hiển làm Đấng Bảo trợ tôi.  Tôi cậy nhờ Người cách rất thiết tha.  Ơn cứu giúp của Người nổi bật nhãn tiền.  Đấng bảo vệ và Cha hiền của linh hồn tôi đã cứu tôi khỏi  tật bệnh suy tàn về thể xác,  cũng như người đã giải thoát tôi khỏi những hiểm nguy trầm trọng hơn về mặt khác,  có thể làm hại hạnh phúc đời đời của tôi.  Tôi nhớ rõ,  chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì cùng Thánh Cả Giuse mà không được như ý.  Kỳ diệu thay,  những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi,  và đã giải thoát tôi khỏi mọi hiểm nguy phần hồn cũng như phần xác,  do lời cầu bầu của vị thánh vinh phúc này.
            Dường như Đấng Tối Cao ban ơn cho các thánh giúp chúng ta việc này việc nọ,  nhưng kinh nghiệm cho tôi biết thì Thánh  Giuse vinh hiển có quyền năng rộng rãi giúp chúng ta trong mọi việc.  Như thế là Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng,  như xưa Chúa đã vâng phục Thánh Cả dưới thế,  đã nhìn nhận Người với quyền làm Cha và làm Giám Quản,  thì nay,  ở trên trời,   Chúa cũng sẵn lòng chiều theo ý của Người,  mà nhận mọi lời Người cầu xin.  Những người khác mà tôi khuyên dạy đến cùng Vị Bảo Trợ này,  cũng nhận thấy điều ấy như tôi,  do kinh nghiệm.  Vậy nên số các linh hồn sùng kính Thánh Cả Giuse ngày càng gia tăng,  và  những  hiệu quả tốt lành do sự chuyển cầu của Thánh Cả càng xác nhận lời tôi nói là sự thật....
            Qua kinh nghiệm lâu dài như vậy,  ngày nay được biết rõ uy thế rất lạ lùng của Thánh Giuse trước tòa Thiên Chúa,  tôi muốn thuyết phục mọi  người  tôn kính,  sùng mộ Thánh Giuse cách đặc biệt.   Cho đến nay tôi vẫn thấy những ai có lòng sùng kính Người đích thực và chứng tỏ bằng việc  làm,  họ  đều  tiến  tới trên đường nhân đức,  vì Đấng Thánh Bảo Trợ trên trời hằng giúp đỡ rõ rệt về đường tiến đức cho những ai cậy nhờ Người". 
(Trích Vie de Sainte Thérèse écrite par elle-mème,  traduite sur le manuscript original par le Morcel Bouiz, s.j.15, éd. 1904).
Vợ chồng có 3 con trai, chết con trai 12 tuổi
            Thánh Alphongsô kể lại rằng:
            Có đôi vợ chồng kia rất đạo đức, sốt sắng và có lòng sùng kính thánh Giuse cách đặc biệt. Hai vợ chồng lại son sẻ nên hằng tin tưởng cầu xin với thánh cả Giuse. Rồi họ được nhận lời, sinh được 3 cậu con trai ! Điều đó làm cho lòng họ càng thêm đạo đức và mến mộ thánh cả, họ gia tăng làm việc lành, nhất là trong dịp tháng 3 kính Thánh cả.
            Khi cậu cả lên 12 Tuổi, vào ngày lễ kính Thánh Giuse (19/3), cậu được rước lễ lần đầu.Nhưng rồi 1 giờ sau, cậu cả đã qua đời. Không lẽ đây lại là 1 ơn lành sao ? Dầu vậy, 2 vợ chồng kia vẫn không hề trách móc, oán thù, mà còn gia tăng lời cầu xin cho 2 đứa con còn lại đừng chịu chung 1 số phận như người anh cả. Thế nhưng, đến năm sau, cũng chính vào ngày lễ kính Thánh Giuse, cậu con trai thứ hai lại lăn ra chết bất thình lình như người anh năm trước. Khỏi cần nói cũng biết nỗi đau của hai vợ chồng kia lớn biết chừng nào. Tuy nhiên, họ vẫn không mất niềm tin.
            Vào một đêm kia, trong lúc hai vợ chồng còn đang chong đèn than thở thì đượ Chúa cho thấy cảnh tượng 2 người thắt cổ chết, bên cạnh còn có người thứ ba, dáng vóc khỏe mạnh, mặc áo Giám mục. Rồi ngay lúc ấy, thánh cả Giuse lấy hình 1 ông già lão bước đến giảng giải:" Các con đau buồn làm chi. Hai đứa lớn nó sống thì sau này cũng sẽ sinh tật trộm cướp và sẽ bị án thắt cổ như cảnh tượng các con vừa thấy đó. Vì thương chúng và thương các con, nên Chúa đã đưa chúng đi khi chúng còn đang trong sạch. Còn đứa thứ 3 sau này sẽ cứu được nhiều linh hồn trong cương vị Giám mục". Nói xong, Thánh cả liền biến đi.
            Hai vợ chồng được giải tỏa nỗi ưu phiền, họ không buồn đau nữa, và ngày càng tỏ rõ lòng kính mến Thánh cả Giuse, cũng như niềm tri ân đối với đức độ và sự khôn ngoan của Ngài. Về sau, đúng như lời ngài nói, đứa con thứ 3 khỏe mạnh, thông minh của họ đã theo ơn gọi giáo sĩ, làm Giám mục và giúp ích cho rất nhiều linh hồn.

 Nguồn : http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=643&ict=9609

_____________________
Các Ngày Lễ Và Lòng Sùng Kính Thánh Giuse

I. Lễ kính Thánh Giuse 

Từ xa xưa, Giáo hội hoàn vũ chỉ có lễ kính Thánh Giuse Bầu Cử (hay Kết bạn) vào ngày 19 tháng 3 mỗi năm. Nhưng nay theo lịch phụng vụ còn có lễ kính Thánh Giuse Lao Động. Vậy nên tìm hiểu về hai lễ kể trên: 

1. Lễ Thánh Giuse Bầu Cử :

Ngược dòng lịch sử, từ thế kỷ đầu, các giáo hữu đầu tiên đã có lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Cho tới thế kỷ XII và XIII các thánh Bênađô, Tôma và Giêtruđê đã nêu cao các nhân đức của Thánh Giuse. Đến đời Đức Gioan XXIII, lễ Thánh Giuse Bạn Trinh Khiết Đức Maria được thành lập vào ngày 19-3-1334. Sang thế kỷ XV và XVI nhà thần học Gerson và Thánh Bernađinô Siênna, đặc biệt là Thánh Têrêxa Avila đã nhiệt thành cổ động lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Năm 1621 Đức Grêgôriô XV đã quyết định lễ Thánh Giuse 19 tháng 3 là Lễ buộc trong Giáo hội Công giáo, và cho tới năm 1714 Đức Clêmentê XI đã qui định các bài lễ và giờ kinh phụng vụ kính Thánh Cả Giuse. 

Hồi nhỏ khi đi nhà thờ, nhìn ngắm chân dung Thánh Cả, tay trái Ngài ẵm Chúa Hài Đồng, tay phải cầm cành hoa huệ, tôi thấy ngộ vì không biết tại sao Thánh Cả già như vậy mà lại còn phải bế Chúa? 
Có lần tôi thấy tượng Thánh Antôn cũng Bồng Chúa Giêsu như tượng Thánh Giuse, tôi về nhà hỏi lại cha mẹ mới được cắt nghĩa về bức tượng Thánh Giuse bằng ba câu thơ như sau: 
Ông Thánh Giuse cầm cành hoa huệ,
Ông Thánh Giuse đứng trên cái bệ,
Ông Tháng Giuse bế đứa trẻ con. 
À ra là thế. 

Về sự tích cành hoa huệ 

Theo dã sử xanh, Trinh Nữ Maria đã dâng mình trong đền thơ và khấn đời sống khiét tịnh. Nhưng từ trước muôn đời, Thiên Chúa đã chọn Bà làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa. Bà sẽ chịu thai bởi phép Thánh Linh chớ không theo tập tục của thế gian. Là những bậc vị vọng trong đền thờ, các thầy cả thượng phẩm đã tổ chức một lễ

tuyển chọn người “bạn đường” cho Maria. Các ngài đã ra lệnh cho tất cả các thanh niên trong thành, ai muốn cùng Maria kết nghĩa trăm năm, phải đến đền thờ khai tên tuổi và mang theo một cây gậy, trong số đó cũng có cả chàng thanh niên Giuse. Trước giờ tổ chức, các Thầy cả thu thập những gậy lại và để trên bàn thờ. Cầu nguyện vừa xong, tự nhiên một cây gậy khô cằn, trên đầu đã nở một cành hoa huệ tươi mát, xem ra mới biết đó là gậy của Giuse và kết quả đã được tuyên bố tức khắc. Giuse với nét mặt vui mừng hớn hở, còn các thanh niên khác với nét mặt tựa “chiếc bánh bao chiều”, giọng hằn học, sau đó tiếng gậy bẻ kêu “lốp đốp” và họ đã lần lượt ra về. 

Nhưng nếu quí vị có dịp về thăm quê hương của Chúa tại thành thánh Nazareth, trong một dịp đẹp trời nào đó, đoàn xe chở khách du lịch sẽ đưa quí vị đến thăm viếng ngôi “Thánh đường Truyền Tin”, đây là một thánh đường nguy nga đồ sộ, là một trong những thánh đường Kitô giáo lớn nhất tại trung Đông. Trong khuôn viên thánh đường này quí vị sẽ được thăm viếng ngôi nhà thờ Thánh Giuse. Phần trên là nơi thiết lập một bàn thờ nhỏ để khách hành hương có chỗ tổ chức thánh lễ nhưng không rộng lắm. Chúng tôi quan sát kỹ lưỡng thấy một cửa sổ kính màu ở phía trên, hình ảnh một buổi lễ kết hôn của Giuse và Maria trước sự chứng giám của Thầy cả. Giuse và Maria cũng ăn mặc bình thường nhưng nhìn kỹ ra cả cô dâu, chú rể cùng đi “chân đất”. Phía trước mặt bàn thờ là một hàng rào sắt bao quanh, đứng ở trên có thể nhìn thấy cảnh sinh hoạt hằng ngày của Thánh Gia Thất xưa, với cảnh đơn nghèo, đời sống chật vật về cả mọi mặt. Cũng có đường vòng và cầu thang đưa du khách xuống mục kích tận mắt dưới phòng hầm này.

2. Lễ Thánh Giuse Lao Động 

Lễ này mới được Đức Giáo Hoàng Piô XII thiết lập vào năm 1955, thánh lễ được mừng kính vào ngày 01 tháng 05 mỗi năm, và là bổn

mạng của giới lao động. Nhìn qua chân dung của tượng Thánh Giuse lao động, chúng ta nhận ra ngay một dáng điệu của bác thợ mộc, nước da sạm nắng, chân tay gân guốc, tay phải luôn cầm chiếc thước thợ. 
Lễ Thánh Giuse lao động đã được mừng kính trong ngày lễ Lao động phần lớn thuộc các quốc gia Âu châu, nước Việt Nam chúng ta cũng cùng mừng lễ Lao động trong dịp này. 

Trong Chương 4 của Tông Thư “Redemptoris Custus”. Chương này đề cao tính cách lao công qua nghề thợ mộc của Thánh Giuse đã làm như một kế sinh nhai hằng ngày, để nuôi sống Chúa Giêsu và Đức Maria trong gia đình Thánh Gia, đã biểu tượng cho lao động một giá trị mới. 
Chương 4 đã viết: “…Vậy nếu gia đình Nazareth là gương sáng và mẫu mực cho các gia đình nhân loại trong việc cứu độ và thánh hoá, thì việc Chúa Giêsu lao công bên Thánh Giuse cũng là một mẫu gương. Ngày nay, Giáo Hội kính nhớ Thánh Giuse Lao Công vào ngày 01 tháng 5. Lao công con người nhất là lao động đã chiếm một chỗ trổi vượt trong Phúc âm. Cùng Con Thiên Chúa trong tính nhân loại, lao công đã được thi hành trong mầu nhiệm nhập thể và đã được phục hồi giá trị cách đặt biệt. Trong xưởng thợ nơi Ngài làm việc cùng Chúa Giêsu, Thánh Giuse đã đưa lao công con người đến gần mầu nhiệm Cứu Chuộc” (số 22). 

II. Thánh Giuse Bầu Cử là Quan Thầy Giáo Hội Việt Nam
Theo giáo sử đã chép lại, từ khi giáo sĩ Ordonnez Cevallos bị trục xuất cho đến đời Vui Lê Thần Tôn (1619-1643), mới có vị thừa sai dòng Tên đầu tiên đến Bắc Hà, đó là giáo sĩ Baldinotti (người Ý) cùng với một tu sĩ người Nhật tên Giulo Piano. Ít lâu sau vì ở Bắc Hà dân tình rất tốt và thích hợp cho công vuộc truyền giáo, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) và P. Marquez thuộc dòng Tên được phái qua Bắc Hà. Hai giáo sĩ này đi tàu thuỷ gặp bão đánh dạt vào cửa Bạng, Thanh Hoá, tức năm 1627, đúng ngày 19 tháng 03 cũng là ngày kính Thánh Giuse; mấy vị thừa sai đã đặt chân lên đất Việt Nam, cùng quỳ xuống hôn đất, dâng việc giảng đạo tại Việt Nam cho Thánh Giuse. 

Sau đó các Giám mục tiên khởi Đàng Ngoài và Đàng Trong đã duyệt y lời khấn đó và dâng các địa phận Việt Nam cho Thánh Giuse. Ngày 21-03-1678, Thánh Bộ Truyền Giáo Rôma, theo lời thỉnh nguyện của các Giám mục và Linh mục thừa sai tại Việt Nam, đã tuyên bối Thánh Giuse là Thánh Bổn Mạng của Giáo Hội Việt Nam. 

III. Lòng sùng kính Thánh Giuse trong Giáo Hội 

Qua các Thánh Giáo Phụ, các Đức Giáo Hoàng đã nhiều lần viện dẫn các chứng minh tại sao các Kitô hữu phải sùng kính Thánh Giuse, vì đời sống Thánh nhân không thể tách rời khỏi Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và Ngài là một trong ba vị của gia đình Thánh Gia, Ngài cũng là gia trưởng cả Thánh Gia Thất. 

Trong thông điệp “Quanquam Pluries”, Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã viết rằng: “Mọi Kitô hữu, bất luận ở thứ bậc nào, cũng phải noi gương bắt chước đời sống và các nhân đức của Thánh Giuse…” 

Đức Thánh Giáo Hoàng Piô X, trong sắc lệnh phê chuẩn kinh cầu (Litanie) Thánh Giuse vào năm 1900, đã kêu gọi mọi tín hữu hãy hết lòng cậy trông vào Thánh Cả vì Ngài là Đấn cầu bầu thế lực nhất của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội. 

Năm 1920, Đức Giáo Hoàng Benoit VX đã ban hành một tự sắc “Motu Proprio” kêu gọi mọi tín hữu hãy cầu xin với Thách Cả, vì Ngài là Đấng gìn giữ mọi gia đình khỏi mọi trào lưu vật chật và vô thần. 

Ngày 10-03-1935, Đức Thánh Cha Piô XI đã việt: “Thánh Cả Giuse là Đấng có thể cầu bầu cho ta mọi ơn lành, bất luận là khó thực hiện đến đâu đi nữa, bởi Đức Mẹ và Chúa Giêsu không thể từ chối Ngài ơn gì”. 

Đức Giáo Hoàng Piô XII khi thành lập lễ Thánh Giuse Lao Động, mừng kính vào ngày 1 tháng 5, đã long trọng tuyến bố đặt Thánh Cả Giuse là Quan Thầy mọi Kitô hữu trên thế giới và mọi tổ chức trong Giáo Hội. 

Ngày 19-03-1961, Đức Gioan XXIII, trong thơ triệu tập Công đồng Vaticanô II đã long trọng tuyên bố: “Thánh Cả Giuse là Quan Thầy của Công đồng Vaticanô II”. Ngài đã truyền buộc phải nêu tên Thánh Cả vào các kinh nguyện Thánh Thể trong Thánh lễ… 

Ngày 15-08-1989, Đức Giáo Hoàng Giaon Phaolô II đã ban hành Tông Thư “Redemptoris Custos” (Đấng Bảo Vệ Chúa Cứu Thế), nói về thân thế và sứ mạng Thánh Giuse trong đời sống Chúa Giêsu và Giáo Hội. Mục đích Tông Thư này để kỷ niệm Đệ bách chu niên Thông điệp “Quamquam Pluries” của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã ca tụng Thánh Ca Giuse, và để: “Mọi Kitô hữu hướng về Thánh Cả với lòng tôn sùng nồng nhiệt, tin tưởng khẩn cầu Ngài bảo vệ, và luôn luôn đặt trước mặt tấm gương khiêm tốn, các thế phục vụ hữu hiệu trong chương trình Cức Độ”. 
Hiện nay trên thế giới đã có hơn 50 dòng tu nam, nữ với danh hiệu là Dòng Tu Thánh Giuse. 

IV. Thánh Giuse với cộng đồng Dân Chúa Việt Nam

1. Đối với hàng Giáo sĩ và tu sĩ 

Tại Việt Nam, những nhà nguyện của các Dòng Kín (Carmêlô): Hà Nội, Bùi Chu, Huế, Sàigòn đều nhận Thánh Giuse làm Bổn mạng, và giáo dân thường chạy đến các nơi ấy để cầu khẩn với Thánh Nhân. Vì Thánh Têrêxa mẹ, vĩ đại cải cách Dòng Kín, đã tại cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse cho người Kitô hữu Tây phương. 

Riêng con đường Cường Để Sàigòn, chỗ gần Hải quân Công xưởng Bason, từ trước tới nay có hai cơ sở lớn nhất của Giáo phận Sàigòn là Dòng Kín và Đại chủng viện Sàigòn đều nhận Thánh Giuse làm Quan Thầy.

Tại Đại chủng viện Sàigòn trong các thập niên cận đại, đã cung cấp cho Giáo Hội Việt Nam nhiều vị chủ chăn thánh thiện, gương mẫu và đầy lòng quả cảm như các Đức Cha Trân Thanh Khâm (Phụ Tá TGP Sàigòn); Phạm Văn Thiên (GM Phú Cường); Nguyễn Văn Thiện (GM Vĩnh Long, hiện đang dưỡng bệnh tại Pháp); Trần Văn Thiện (GM Mỹ Tho); Nguyễn Văn Mầu và Nguyễn Văn Diệp (GM Chánh và Phó Vĩnh Long hiện nay); Huỳnh Văn Nghi (GM Phan Thiết) v.v… và nhiều Đức Cha được tuyển chọn sau 1975 tới nay. 

Vào tháng Hai năm 1670, khi Đức Cha Lambert de la Motte soạn thảo Hiến pháp cho Dòng Nữ Tu Mến Thánh Giá, Ngài đã chọn Thánh Giuse làm Bổn Mạng cho Tu Hội này (khoản 14 trong Hiến pháp). 

Vào năm 1926, đặc biệt một Tu Hội được thành lập tại Nha Trang (Việt Nam), dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse do Cha Setz, sau làm Giám Mục Kontum. Dòng này có khoảng 50 tu sĩ hành sự như các Thầy Giảng nhưng có lời khấn hẳn hoi, đã hoạt động rất đắc lực trong ba giáo phận Nha Trang, Qui Nhơn và Đà Nẵng.

2. Về Phía giáo dân 

Ngoài việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Mẹ, việc tôn sùng Thánh Cả Giuse vẫn đứng hàng đầu. Tại các giáo xứ miền quê, mỗi khi chọn tên thánh lúc Rửa tội hay Thêm sức, người ta thường chọn tên Thánh Giuse. 

Mỗi năm Giáo hội dành tháng Ba để kính Thánh Giuse. Ban sáng trước khi dân Thánh lễ Misa, bổn đạo hay đọc 5 chục kinh theo ngày, thứ Tư thường là 5 chục kinh mùa Mừng, đoạn đọc Kinh Cầu Ông Thánh Giuse và tham dự Thánh lễ. Tối đến, giáo dân lại đến nhà thờ làm việc kính Thánh Cả Giuse; ngắm 7 sự đau đớn cùng 7 sự vui mừng ông Thánh Giuse, kinh cầu Thánh Giuse, đoạn nghe đọc sách về tháng kính Thánh Giuse; bàn thờ kính Thánh Giuse là một ba bàn thờ chính. Nơi nào nhận Thánh Giuse làm Bổn Mạng thì bàn thờ chính giữa dành riêng để ảnh Thánh Nhân. Các tư gia đều có trưng ảnh Thánh Giuse trên bàn thờ, nếu không cũng có ảnh Thánh Gia Thất. 

Lý do đạo đức và lòng tôn sùng Thánh Giuse nơi giáo dân Việt Nam rất dễ hiểu, vì người là Đấng Công chính, là Phu Quân của Đức Maria và là Bố Nuôi Đấng Cứu Thế. Ơn nữa, Thánh nhân là Quan Thầy Giáo Hội Việt Nam, là Đấng Bảo Trợ Giáo Hội hoàn vũ. Riêng tại Cửa Bạng, Thanh Hoá, hiện nay có hai cơ sở tôn giáo lớn đáng ghi nhớ đời đời: 

Nhà Thờ xứ Ba Làng, một họ đạo đầu tiên mà Cha Đắc Lộ đã giảng đạo cho cha ông chúng ta trong ngày Lễ Thánh Giuse vào năm 1627, cùng những ngày tháng kế tiếp. Giáo dân ở đây có tinh thần đức Tin cao độ, không chấp nhận chung sống với lũ vô thần, nên đã nổi tiếng vùng lên đấu tranh với cộng sản để được di cư vào Nam Việt Nam .

Toà nhà nguy nga của Chủng viện Thánh Giuse. Chủng viện này nay mang tên là Đại Chủng viện Vinh Thanh, vì đào tại chung các chủng sinh cho hai địa phận Vinh và Thanh Hoá. 

V. Hãy đến cùng Giuse 

Chắc trong chúng ta không ai là không nhớ tích truyện ông Giuse đã bị anh em bán sang đất Ai Cập. Trong thời kỳ an cư tại đây, ông đã giải mộng cho nhà về những điềm báo mộng kinh hãi. Vì trọng tại tiên đoán của ông, nhà vua đã phong cho ông một chức vụ nắm vận mệnh kinh tế trong nước, Sau một thời gian đất nước Ai Cập bị đói kém mất mùa, dân chúng khổ sở cơ hàn, nhưng riêng hoàng cùng của Pharaon, đã tích trữ được biết bao nhiêu lúa gạo đầy kho, dù có kéo dài bao nhiêu năm tháng cũng không sợ gì đến sự đói khát. 

Dân chúng thấy vậy liền kéo đến xin cùng vua Pharaon ban cho chút ít lương thực ddể qua cơn cơ hàn. Nhưng, vua Pharaon đã nói với họ: “Hãy đến cùng Giuse ‘ Ite ad Joseph” (Kn 41:55), họ đã vâng theo và làm như vậy, cuối cùng dân tình giảm bớt được sự đói khổ. 

Là những người “Việt di tản”, chúng ta cũng nên bắt chước dân chúng Ai cập thuở xưa và theo như lời của vui Pharaon “Hãy đến cùng Giuse”, vì Giuse chúng ta đến cầu khẩn dây là Thánh Cả Giuse luôn phù thợ Giáo Hội hoàn vũ, là Bổn Mạnh Giáo Việt Nam, là gương sự nhịn nhục, Ngài mến sự khó khăn và là mẫu mực các kẻ làm ăn v.v. 

Vậy muốn được an ủi và hạnh phú trên các miền đất mới khắp thế giới, muốn giải quyết những phức tạp của đời sống ly hương, muốn cân bằng những tập tục trong gia đình theo lề lối cổ truyền của cha ông chúng ta từ ngàn xưa tại quê hương Việt Nam, chúng ta hãy đến cùng Thánh Cả Giuse, chắc không có vị Thánh nào thấu hiểu tình cảnh di tản của chúng ta cho bằng Thánh Nhân, vì chính Ngài đã phải di tản để bảo vệ đời sống của Hài Nhi Giêsu và Mẹ chí thánh Người qua những vùng đồi núi hiểm nguy và tại miền đất tạm cư. 

Nhưng, Thánh Nhân di tản và cũng đã có ngày “trở về quê cũ”. Chúng ta cũng xin Thánh Gia Thất cầu bầu, để một ngày kia con dân Việt di tản, sẽ cùng nhau trở lại quê hương để thăm lại những miền đất do ông cha đã gây dựng, thăm lại những con đường rộng thênh thang suốt từ Bắc chí Nam, tự ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, và cùng nhau hát lại những thánh ca trìu mến để biệt kính Thánh Gia nói chung và Thánh Cả Giuse nói riêng, với muôn đời cậy trông nơi lòng xót thương của Thánh Nhân.
Lm Nguyễn Quang Tuyến
Nguồn : ngonnennho.net

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Núi Tabor - nơi Chúa biến hình trước mặt ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê

Tin Mừng Chúa Nhật II Mùa Chay Năm B
Tin Mừng: Mc 9,2-10

Tin Mừng Chúa Giêsu KiTô theo Thánh Mác-cô

Hôm ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Và ba môn đệ thấy ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su. Bấy giờ, ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, Thầy một cái, ông Mô-sê một cái, và ông Ê-li-a một cái." Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng. Và có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người." Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giê-su với các ông mà thôi. Ở trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trừ khi Con Người đã từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu "từ cõi chết sống lại" nghĩa là gì.

Núi Tabor

Núi Tabor nằm cách thị trấn Cana về phía Đông Nam khoảng 8 km - là nơi Chúa biến hình trước mặt ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê. (Lc 9,28b)
Tabor Map
Tabor Mt
Từ Cana đến núi Tabor khoảng 30 phút đi xe
Vì địa hình đồi núi, xe phải đi theo hình chữ chi để lên đến đỉnh núi
Phong cảnh đường lên núi Tabor
Đường dẫn vào nhà thờ Tabor
Cổng và Nhà thờ
Bảng hướng dẫn với tiếng Anh, Ả-rập và Do Thái
Trong khu vực nhà thờ có các khoảng trống dành cho du khách
Nhìn từ ngoài cổng

Bàn thờ chính
Cận ảnh
Hình Tiên tri Elisa bên cánh trái
Hình tiên tri Moisen bên cánh phải
Bàn thờ phụ
Hình bên bàn thờ phụ
nhìn từ trên không
Núi Tabor lúc hoàng hôn


 Nguồn : www.40giayloichua.net   


Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

CHIẾC CẦU THANG KỲ DIỆU

CHIẾC CẦU THANG KỲ DIỆU (THÁNH CẢ GIUSE) Ở SANTA FE, HOA KỲ
... Nơi một Nhà Nguyện tại thành phố Santa Fe thuộc bang New Mexico bên HoaKỳ, có chiếc cầu thang thật đặc biệt với nguồn gốc lạ thường đáng được nhắc đến trong khuôn khổ tháng 3 dâng kính Thánh Cả GIUSE.

Cách đây gần 140 năm - vào năm 1872 - Đức Giám Mục giáo phận Santa Fe là Đức Cha Jean Baptiste Lamy(1814-1888), gốc Pháp, dự định xây cất một Nhà Nguyện dâng kính Đức Bà Loreto(Loretto Chapel) với mục đích làm nơi thờ phượng cho Cộng Đoàn gồm 4 Nữ Tu thành Loreto (Sisters of Loretto). Các Chị vừa thành lập Cộng Đoàn ở đây.

Công việc xây cất ủy thác cho kiến trúc sư P. Mouly, người Pháp. Ông khởi công ngày 25-7-1873 và hoàn thành 5 năm sau đó. Nhà Nguyện dài 22,5 mét, rộng 7,5 mét và cao 25,5 mét. Nhà Nguyện dâng kính Thánh Cả GIUSE.

Khi Nhà Nguyện hoàn thành thì người ta mới thấy có một thiếu sót trầm trọmg. Nhà Nguyện không có cầu thang đi lên gác-đàn (dành cho Ca Đoàn). Nhiều nhà chuyên môn được mời đến để nghiên cứu xem phải giải quyết vấn đề như thế nào. Mọi người đều thấy không còn chỗ để xây cầu thang, ngoại trừ việc làm một đường hầm hoặc xây một cầu thang theo hình con ốc.

Sau khi nghe các ý kiến, Các Nữ Tu cảm thấy vô cùng bối rối và lo âu. Nhưng Các Chị đặt trọn lòng tin tưởng nơi sự trợ giúp đặc biệt của Thánh Cả GIUSE, Đấng mà Các Chị rất sùng kính. Các Chị quyết định làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh Cả GIUSE, van xin Người cầu bầu cùng THIÊN CHÚA Quan Phòng.

Vào ngày cuối Tuần Cửu Nhật, có Người Khách Lạ xuất hiện nơi cửa Tu Viện. Ông có mái tóc muối tiêu và mang theo con lừa trên lưng chở vật dụng. Người Khách xin gặp Mẹ Bề Trên lúc ấy là Nữ Tu Maddalena. Khi Mẹ Bề Trên ra tiếp thì Người Khách Lạ cho biết Ông sẵn sàng chấp nhận công tác xây chiếc cầu thang.

Kể sao cho xiết nỗi vui mừng của Mẹ Bề Trên và toàn thể Cộng Đoàn. Các Chị thấy rõ lời cầu xin đã được THIÊN CHÚA lắng nghe.

Người Thợ Mộc bắt tay ngay vào việc. Các Nữ Tu thỉnh thoảng ghé qua chiêm ngắm công việc của Ông.

Để làm chiếc cầu thang, Người Thợ Mộc chỉ dùng 3 dụng cụ: cái cưa, thước đo góc và cái búa. Rồi thay vì dùng đinh, Ông chỉ dùng các chốt bằng gỗ và ngâm các chốt này trong nước. Vỏn vẹn sau ba tháng, chiếc cầu thang hoàn thành.

Khi công việc xong xuôi, Mẹ Bề Trên Maddalena chuẩn bị tiền để trả công cho Người Thợ Mộc. Nhưng Ông biến mất không để lại dấu vết và tông tích.

Các Nữ Tu dò hỏi các tiệm thủ-công-nghệ và tiệm bán đồ gỗ trong thành phố thì không nơi nào đã bán bất cứ vật dụng gì cho Người Thợ Mộc. Vã lại, loại gỗ được dùng để xây cầu thang cũng không tìm thấy trong vùng.

Riêng về chiếc cầu thang thì thật là lối kiến trúc diệu kỳ, độc nhất và khác thường, không trông thấy ở bất cứ nơi đâu. Cầu thang bỗng trở thành đối tượng tò mò cho các cuộc viếng thăm hiếu kỳ. Ai ai cũng nức lời trầm trồ khen ngợi.

Cầu thang gỗ có tất cả 33 bậc và xoay quanh trên hai vòng xoắn đúng 360 độ. Cầu thang khởi đầu dưới hầm và lên đến tận gác-đàn dành cho Ca Đoàn. Chỉ có thế thôi. Cầu thang không hỗ-trợ đỡ-nâng bởi bất cứ cột trụ nào khác. Nghĩa là cầu thang tự đứng thẳng trên chính nó. Thêm vào đó, khi bước trên các bậc thang người ta có cảm giác êm-ái nhẹ-nhàng nhún-nhẩy như đi trên các bậc thang làm bằng chất nhựa mềm. Thật lạ lùng và thật khác thường!

Rất nhiều kiến trúc sư và các nhà xây cất đến tận nơi xem xét và chiêm ngắm chiếc cầu thang lạ lùng. Điều kỳ diệu hơn nữa là trải qua hơn 130 năm chiếc cầu thang được sử dụng lên xuống hàng ngày vậy mà nó vẫn đứng vững nguyên vẹn, không bị sụp đổ!

Loại gỗ dùng làm cầu thang cũng không thể xếp vào thứ gỗ nào. Nó cũng không được tìm thấy bất cứ nơi đâu trong toàn tiểu bang New Mexico của Hoa Kỳ và cũng không rõ đến từ vùng nào miền nào trên trái đất này.

Riêng về phía các Nữ Tu Loreto, Các Chị không dám quả quyết Người Thợ Mộc khác lạ kia chính là Thánh Cả GIUSE. Chỉ có điều chắc chắn là Các Chị xác tín rằng Chiếc Cầu Thang hoàn thành nhờ lời chuyển cầu của Thánh Cả GIUSE, Đấng mà Các Chị đặt trọn lòng tin tưởng phó thác và đã cùng nhau sốt sắng làm Tuần Cửu Nhật dâng kính Thánh Cả GIUSE.

Chiếc cầu thang kỳ lạ trên đây hàng năm thu hút khoảng hơn 250 ngàn du khách hiếu-kỳ đến viếng thăm.

... Kinh THÂN LẠY THÁNH CẢ GIUSE.
Con thân lạy Thánh Cả GIUSE, là bàu chủ và Cha kẻ đồng trinh. Bởi Thánh GIUSE giữ lòng trinh khiết, nên đáng gìn giữ Chúa KITÔ là chính sự vẹn sạch, và Đức Nữ Đồng TRinh MARIA. Nhân vì Đức Chúa GIÊSU và Đức Mẹ là hai của cầm châu báu Đức Chúa CHA, thì con nài xin gìn giữ xác con khỏi mọi bợn nhơ, trí khôn con thanh tịnh, lòng con vẹn sạch hầu con nên trung thành tinh khiết cùng Đức Chúa GIÊSU và Đức Mẹ cho đến muôn đời. Amen.



Stained glass (cửa kính màu) của nhà nguyện LORETTO

Một chặng đàng Thánh giá - Chúa Giêsu ngả xuống đất lần thứ hai.

Toà giải tội



Bên ngoài nhà nguyện LORETTO.


CHIẾC CẦU THANG KỲ DIỆU
(Một phép lạ của Thánh Giuse?)
(Lm. Anphong Trần Ðức Phương sưu tầm từ internet) 
Tại thành phố Santa Fe, bang New Mexico, Hoa kỳ, một bí mật đã xảy ra hơn 130 năm, thu hút khoảng 250 ngàn du khách mỗi năm. Nơi đó là: Nhà Nguyện LORETTO.

Nhà nguyện Loretto
* Điểm độc đáo của Nhà Nguyện này là: Nơi được cho là đã xảy ra phép lạ lại là một cái cầu thang.
* Nhà Nguyện được xây vào khoảng thế kỷ thứ 19. Khi hoàn thành, các nữ tu phát hiện thấy họ đã quên không làm cầu thang để đi lên sàn hát của Nhà nguyện.
* Họ làm Tuần Cửu Nhật để cầu xin Thánh Giuse, là một thợ mộc để Ngài giúp đỡ.
* Vào ngày cuối cùng (của Tuần Cửu Nhật), một người lạ mặt gõ cửa và tự xưng là một thợ mộc, muốn giúp các nữ tu làm cái cầu thang.
* Ông ta đã một mình làm xong cái cầu thang hình xoắn ốc, và nó đã trở thành một kiệt tác của nghề thợ mộc.
* Không ai hiểu được làm thế nào cây cầu thang có thể đứng vững được, vì nó không có cột trụ trung tâm để đỡ sức nặng của loại cầu thang này.

Cầu thang kỳ diệu * Làm xong, ông thợ mộc ấy lặng lẽ biến mất mà không hề đòi thù lao. Ông đã làm xong cây cầu thang mà không sử dụng một keo dán hay một cây đinh nào.
Trong khắp cả thành phố Santa Fé, người ta cho rằng người thợ mộc ấy chính là Thánh Giuse… đã được Chúa Giêsu gởi đến để đáp lại lời nguyện xin của các nữ tu. Từ ngày ấy, chiếc cầu thang được coi là một Phép Lạ, và trở thành địa điểm hành hương. Người đại diện ở Nhà Nguyện nói rằng có 3 điều bí ẩn ở đây: Thứ nhất là: Cho đến nay vẫn chưa ai biết được tên tuổi của người thợ mộc ấy. Thứ hai là: Mọi kiến trúc sư, kỹ sư và khoa học gia đều nói rằng không thể hiểu được làm thế nào chiếc cầu thang có thể đứng vững mà không có điểm tựa ở trung tâm (như thường thấy ỏ các cầu thang loại xoắn ốc này). Thứ ba là: Gỗ làm cầu thang lấy từ đâu? Họ đã kiểm tra và phát hiện rằng gỗ được sử dụng làm cầu thang không hề có trong toàn vùng ấy.
Thêm một chi tiết làm tăng niềm tin vào Phép Lạ là: Cầu thang có 33 bậc, là tuổi của Chúa Giêsu Kitô ở trần gian.
Nhà Nguyện LORETTO, 207 Old Santa Fe Trail, Santa Fe, NM. 87501. Điện thoại: 505-982-0092

(Sưu tầm)