Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Tông thư – Tự sắc "Porta Fidei" của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, công bố Năm Đức Tin 2012 – 2013



Tông thư – Tự sắc của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, công bố Năm Đức Tin 2012 – 2013


1. “Cánh cửa đức Tin” (x. Cv 14, 27) dẫn vào đời sống kết hiệp với Thiên Chúa, đồng thời mở ra con đường bước vào Giáo hội, vẫn luôn mở rộng cho chúng ta. Chúng ta có thể bước qua ngưỡng cửa đó khi Lời Chúa được loan báo và để cho ơn biến đổi uốn nắn tâm hồn. Bước qua cánh cửa đó là dấn bước vào một cuộc hành trình kéo dài suốt đời. Hành trình này bắt đầu bằng bí tích Rửa Tội (x. Rm 6, 4), nhờ đó chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Cha, và hoàn tất với việc vượt qua cái chết, tiến đến sự sống đời đời, là hoa quả sự phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng đã dùng ơn Chúa Thánh Thần mà muốn cho tất cả những ai tin nơi Người đều được thông phần vào vinh quang của Người (x. Ga 17, 22). Tuyên xưng niềm tin nơi Chúa Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – chính là tin vào một Thiên Chúa duy nhất, Đấng là Tình yêu (x. 1 Ga 4, 8): Chúa Cha, khi đến thời viên mãn, đã sai Con của Người đến cứu độ chúng ta; Chúa Giêsu Kitô đã chuộc tội trần gian trong mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Người; Chúa Thánh Thần dẫn dắt Giáo hội qua các thời đại, đang khi mong chờ cuộc quang lâm vinh hiển của Chúa.
 
2. Khi bắt đầu đảm nhận sứ vụ Kế vị Thánh Phêrô, tôi đã nhắc đến việc cần phải tái khám phá hành trình đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và niềm hưng phấn mới của việc gặp gỡ Đức Kitô. Trong Bài giảng Thánh lễ khai mạc sứ vụ Giáo hoàng, tôi đã nói: “Toàn thể Giáo hội và các Mục tử trong Giáo hội, cũng như Đức Kitô, phải lên đường để đưa con người ra khỏi sa mạc, đến nơi có sự sống, đến việc làm bạn với Con Thiên Chúa, đến với Đấng ban cho chúng ta sự sống, sự sống dồi dào” [1]. Tuy nhiên, các Kitô hữu lại thường quan tâm nhiều hơn tới những kết quả của sự dấn thân về phương diện xã hội, văn hóa và chính trị, cứ tưởng rằng đức tin là tiền đề hiển nhiên của đời sống xã hội. Nhưng thực tế cho thấy tiền đề ấy không chỉ không còn được coi là hiển nhiên nữa mà thậm chí còn thường bị phủ nhận. [2]. Trong khi ngày xưa, có thể nhận ra một hệ thống văn hóa thống nhất, được nhiều người chấp nhận, có tham chiếu nội dung đức tin và những giá trị chịu ảnh hưởng của đức Tin, thì ngày nay, trong các lãnh vực lớn của xã hội có lẽ không còn như vậy nữa, do cuộc khủng hoảng sâu sắc về đức Tin đã ảnh hưởng tới nhiều người.
 
3. Chúng ta không thể chấp nhận để muối nhạt đi và ánh sáng bị che khuất (x. Mt 5, 13-16). Con người ngày nay, cũng giống như người phụ nữ Samaria, có thể cũng lại cảm thấy cần phải đến bên giếng nước để lắng nghe Chúa Giêsu, Đấng mời gọi hãy tin vào Người và múc lấy nước hằng sống từ Người trào ra (x. Ga 4, 14). Chúng ta phải tìm lại niềm vui thích nuôi dưỡng mình bằng Lời Chúa được Giáo hội trung thành truyền lại, và bằng Bánh Hằng Sống, được ban cho để nâng đỡ tất cả những ai làm môn đệ Chúa (x. Ga 6, 51). Quả thật, giáo huấn của Chúa Giêsu vẫn còn vang dội mạnh mẽ trong thời đại chúng ta: “Các con hãy làm việc không phải để được của ăn hay hư nát, nhưng để được lương thực thường tồn” (Ga 6, 27). Câu hỏi đã được mọi người nghe Chúa nói đặt ra, cũng là câu hỏi của chúng ta ngày nay: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” (Ga 6, 28). Chúng ta biết Chúa Giêsu trả lời ra sao: “Việc Thiên Chúa muốn là: Anh em hãy tin vào Đấng mà Người đã sai đến” (Ga 6, 29). Vậy, tin vào Chúa Giêsu Kitô chính là con đường chắc chắn đạt tới ơn cứu độ.
 
4. Từ những điều nói trên, tôi quyết định mở một Năm Đức Tin. Năm Đức Tin sẽ bắt đầu từ ngày 11 tháng Mười 2012, nhân kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vatican II, và sẽ kết thúc vào ngày đại lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, 24 tháng Mười Một 2013. Ngày 11 tháng Mười 2012, cũng sẽ diễn ra lễ kỷ niệm 20 năm xuất bản Sách Giáo Lý Hội Thánh Công giáo, được vị Tiền nhiệm của tôi, Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II [3] ban hành, với mục đích trình bày cho mọi tín hữu sức mạnh và vẻ đẹp của đức Tin. Văn kiện này là thành quả đích thực của Công đồng Vatican II. Thượng Hội đồng Giám mục khóa họp ngoại thường năm 1985 đã mong ước văn kiện này được sử dụng trong việc dạy giáo lý [4]; và toàn thể hàng Giám mục của Giáo hội Công giáo đã cộng tác thực hiện văn kiện này. Chính tôi cũng đã triệu tập Đại hội toàn thể Thượng Hội đồng Giám mục vào tháng Mười năm 2012 về đề tài Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức Tin Kitô giáo. Đây sẽ là một cơ hội thuận lợi để đưa toàn Giáo hội bước vào một giai đoạn suy tư đặc biệt và tái khám phá đức Tin. Đây không phải lần đầu tiên Giáo hội được kêu gọi cử hành Năm Đức Tin. Vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi, Tôi tớ Chúa Phaolô VI cũng đã ấn định Năm Đức Tin tương tự vào năm 1967, để kỷ niệm cuộc tử đạo của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, nhân 1900 năm cuộc làm chứng cao cả của các ngài. Đức cố giáo hoàng đã nghĩ đến việc kỷ niệm này là một thời điểm long trọng để toàn thể Giáo hội chính thức và chân thành “tuyên xưng cùng một đức Tin”; ngoài ra, ngài mong muốn đức Tin được củng cố “về phương diện cá nhân cũng như tập thể, có tự do và ý thức, nơi nội tâm cũng như bên ngoài, khiêm tốn và chân thành” [5]. Ngài tin rằng bằng cách này toàn thể Giáo hội sẽ “ý thức rõ rệt hơn về đức Tin của mình, để làm tươi mới đức Tin, thanh luyện, củng cố và tuyên xưng đức Tin” [6]. Những xáo trộn lớn diễn ra trong Năm Đức Tin ấy càng cho thấy rõ cần phải có một cuộc cử hành như thế. Năm Đức Tin ấy đã kết thúc với Bản Tuyên xưng Đức Tin của Dân Chúa [7], cho thấy có biết bao nội dung cốt yếu từ các thế kỷ qua, vốn là gia sản của mọi tín hữu, cần phải được củng cố, hiểu biết và ngày càng đào sâu hơn, để đưa ra chứng từ phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đã khác xưa.
 
5. Trong một số khía cạnh, vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi đã coi Năm Đức Tin ấy như “một hệ quả và là một yêu cầu của thời hậu Công đồng” [8], ngài ý thức rõ về những khó khăn nghiêm trọng của thời đại, nhất là về việc tuyên xưng đức Tin chân thật và sự giải thích đức Tin đúng đắn. Tôi cho rằng việc khởi sự Năm Đức Tin trùng với dịp kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vatican II có thể là một cơ hội thuận lợi để hiểu rằng các văn kiện Công đồng, được các Nghị phụ để lại như di sản, - theo như lời Chân phước Gioan Phaolô II - “không hề mất giá trị và vẻ ngời sáng”. Các văn kiện ấy cần phải được đọc một cách đúng đắn, được phổ biến rộng rãi và tiếp nhận thấu đáo như những văn kiện quan trọng và mang tính quy phạm thuộc Huấn quyền, trong Truyền thống của Giáo hội… Hơn bao giờ hết tôi cảm thấy nghĩa vụ phải nói rõ Công đồng chính là hồng ân Giáo hội được hưởng trong thế kỷ XX: Công đồng mang lại cho chúng ta một chiếc la bàn đáng tin cậy để định hướng trong cuộc hành trình thế kỷ đang mở ra” [9]. Tôi cũng muốn mạnh mẽ nhắc lại những gì tôi đã nói về Công đồng sau vài tháng được bầu lên kế vị Thánh Phêrô: “Nếu chúng ta đọc và đón nhận Công đồng, với sự giải thích đúng đắn, thì Công đồng ngày càng sẽ và luôn trở thành một nguồn lực lớn lao cho việc thực hiện cuộc canh tân vốn luôn cần thiết đối với Giáo hội” [10].
 
6. Cuộc canh tân Giáo hội cũng còn được thực hiện qua chứng từ cuộc sống của các tín hữu: quả vậy, bằng chính sự hiện diện của mình trong thế giới, các tín hữu được mời gọi làm ngời lên Lời Chân lý Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Chính Công đồng, trong Hiến chế tín lý Lumen Gentium, đã khẳng định: “Trong khi Chúa Kitô, ‘thánh thiện, vô tội, không tì vết’ (Dt 7, 26) không hề biết đến tội lỗi (x. 2 Cr 5, 21), chỉ đến mà chuộc tội cho dân (Dt 2, 17), thì Giáo hội, mang trong lòng mình những kẻ tội lỗi, vì thế, Giáo hội là thánh thiện đồng thời cũng được kêu gọi thanh luyện chính mình, không ngừng phải nỗ lực thống hối và canh tân. Giáo hội “tiến bước trong cuộc lữ hành qua những cuộc bách hại của trần thế và những an ủi của Thiên Chúa”, loan báo cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa cho đến khi Chúa đến (x. 1 Cr 11,26). Quyền năng của Chúa Phục sinh giúp cho Giáo hội thắng vượt –với lòng nhẫn nại và yêu thương– những buồn sầu và khó khăn xảy đến cho Giáo hội từ bên ngoài và cả từ bên trong, và trung thành bày tỏ mầu nhiệm của Chúa giữa lòng thế giới, mầu nhiệm ấy dù còn bị bóng tối che khuất nhưng cuối cùng sẽ đến ngày hiển lộ trong ánh quang rạng ngời” [11]’.
 
Trong viễn cảnh này, Năm Đức Tin là lời mời gọi hãy hoán cải một cách đích thực và được đổi mới, trở về với Chúa là Đấng duy nhất cứu độ thế giới. Trong mầu nhiệm cái chết và phục sinh của Người, Thiên Chúa đã mặc khải trọn vẹn Tình yêu cứu độ và kêu gọi con người hoán cải cuộc sống nhờ được tha thứ tội lỗi (x. Cv 5, 31). Đối với Thánh Phaolô Tông đồ, Tình yêu ấy dẫn con người đến cuộc sống mới: “Qua phép Rửa, chúng ta đã được mai táng với Người trong sự chết, để như Chúa Kitô sống lại từ cõi chết nhờ vinh quang của Chúa Cha, chúng ta cũng sẽ được sống trong sự sống mới” (Rm 6, 4). Nhờ đức Tin, sự sống mới này làm khuôn mẫu cho toàn thể cuộc sống con người theo sự mới mẻ tuyệt đối của sự sống lại. Tùy theo mức độ sẵn sàng vâng theo ý Chúa, mọi tư tưởng và tình cảm, tâm trí và hành vi của con người dần dần được thanh luyện và biến đổi, trong một cuộc hành trình chẳng bao giờ được hoàn tất ở đời này. Đức Tin “hành động qua đức ái” (Gl 5, 6) trở thành một chuẩn mực mới giúp thông hiểu và hành động, làm thay đổi toàn thể cuộc sống con người (x. Rm 12, 2; Cl 3, 9-10; Ep 4, 20-29; 2 Cr 5, 17).
 
7. “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5, 14): chính tình yêu Chúa Kitô đổ đầy tâm hồn chúng ta và thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng. Ngày nay cũng như xưa kia, Chúa sai chúng ta ra đi trên khắp nẻo đường thế giới để công bố Tin Mừng của Người cho mọi dân tộc trên trái đất (x. Mt 28, 19). Chúa Giêsu Kitô dùng tình yêu thu hút con người thuộc mọi thế hệ đến với Người: trong mọi thời đại, Người gọi Giáo hội đến và trao nhiệm vụ loan báo Tin Mừng, với một mệnh lệnh luôn luôn mới mẻ. Vì thế, ngày nay Giáo hội phải dấn thân một cách thuyết phục hơn nữa qua công cuộc Tân Phúc âm hóa, để tái khám phá niềm vui đức Tin và tìm lại niềm hăng say thông truyền đức Tin. Việc dấn thân truyền giáo của các tín hữu, vốn không bao giờ được thiếu, sẽ nhận được sức mạnh và tinh thần hăng hái qua việc hằng ngày nhận ra tình yêu của Thiên Chúa. Thực vậy, đức Tin sẽ tăng trưởng khi biết sống đức Tin với cảm nghiệm về tình yêu đã nhận lãnh, và biết thông truyền đức Tin với cảm nghiệm về ân sủng và niềm vui. Đức Tin làm cho chúng ta trở nên phong phú, bởi đức Tin giúp tâm hồn mở rộng trong hy vọng và đem lại một chứng từ giàu sức sống: đức Tin mở cánh cửa tâm trí của tất cả những ai lắng nghe và đón nhận Lời Chúa mời gọi hãy gắn bó với Lời Chúa để trở thành môn đệ của Người. Thánh Augustinô cho biết, các tín hữu “nhờ tin tưởng mà được củng cố” [12]. Thánh Giám mục thành Hippo đã có lý khi nói như vậy. Như chúng ta biết, cuộc đời của thánh nhân là một cuộc tìm kiếm không ngừng vẻ đẹp của đức Tin cho đến khi tâm hồn ngài tìm được sự an nghỉ trong Thiên Chúa [13]. Trong nhiều tác phẩm của mình, thánh nhân đã giải thích tầm quan trọng của việc tin và chân lý đức Tin. Những tác phẩm ấy đến nay vẫn còn là một di sản phong phú vô song, giúp biết bao người tìm kiếm Thiên Chúa gặp được con đường đúng đắn để đến được “cánh cửa đức tin”.
 
Vì vậy, sở dĩ đức Tin được tăng trưởng và vững mạnh là nhờ biết tin tưởng; để đời mình được vững chắc, không có cách nào khác hơn là không ngừng buông mình vào vòng tay của một tình yêu dường như lớn lao thêm mãi, bởi tình yêu ấy phát xuất từ Thiên Chúa.
 
8. Nhân dịp vui mừng này, tôi muốn mời gọi anh em Giám mục trên toàn thế giới hãy hiệp nhất với Người Kế Vị Thánh Phêrô, trong thời điểm ân phúc thiêng liêng Chúa dành cho chúng ta, để nhớ lại hồng ân đức Tin quý giá. Chúng ta mong được cử hành Năm Đức Tin này một cách xứng đáng và sinh ơn ích. Cần tăng cường suy tư về đức Tin để giúp tất cả những ai tin vào Chúa Kitô được ý thức hơn và củng cố lòng gắn bó với Tin Mừng, nhất là vào lúc nhân loại đang sống giữa những đổi thay sâu sắc như hiện nay. Chúng ta sẽ có cơ hội tuyên xưng đức Tin nơi Chúa Phục Sinh trong các nhà thờ chính tòa và các nhà thờ trên khắp thế giới; trong các gia đình, để mỗi người cảm thấy sự đòi hỏi cấp thiết phải hiểu biết hơn nữa về đức Tin và truyền lại đức Tin ấy cho các thế hệ mai sau. Các cộng đoàn dòng tu cũng như các giáo xứ, và toàn thể những tổ chức trong Giáo hội, dù lâu đời hay mới lập, hãy tìm ra cách thức công bố Kinh Tin Kính trongNăm Đức Tin này.
9. Chúng ta mong ước Năm Đức Tin sẽ khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng đức Tin trong sự toàn vẹn và với một niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng. Năm này sẽ là một cơ hội thuận lợi để tăng cường việccử hành đức Tin trong phụng vụ, nhất là trong phép Thánh Thể, vốn là “chóp đỉnh mà hoạt động của Giáo hội hướng tới, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào sức mạnh của Giáo hội” [14]. Đồng thời, chúng ta ước mong việc làm chứng bằng đời sống của các tín hữu sẽ tăng tiến trong sự khả tín. Tái khám phá nội dung đức Tin được tuyên xưng, được cử hành, được thể hiện qua đời sống và cầu nguyện [15], và suy tư về chính việc làm của lòng tin, đó là nhiệm vụ mỗi tín hữu phải thực hiện, nhất là trong Năm Đức Tin này.
 
Không phải là không có lý do mà trong những thế kỷ đầu tiên, các Kitô hữu phải học thuộc lòng kinh Tin kính. Các tín hữu dùng kinh này cầu nguyện hằng ngày, để không quên lời cam kết khi chịu phép Rửa tội. Với những lời mang ý nghĩa súc tích, thánh Augustinô nhắc nhở điều đó trong Bài giảng về redditio symboli, trao Tín biểu (Kinh Tin kính): “Tín biểu về mầu nhiệm thánh (Kinh Tin kính) mà tất cả anh chị em cùng nhau lãnh nhận và từng người trong anh chị em hôm nay đọc lên, là những lời diễn tả đức Tin của Mẹ Giáo hội, được xây dựng vững chắc trên nền tảng vững bền là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta... Anh chị em đã lãnh nhận và tuyên đọc Tín biểu này, vậy, phải lưu giữ Tín biểu nơi lòng trí anh chị em, phải lặp lại Tín biểu khi lên giường ngủ, phải suy ngẫm Tín biểu khi ra nơi công cộng, không được quên Tín biểu khi ăn uống, ngay cả khi thân xác đã ngủ yên, thì trái tim vẫn tỉnh thức với Tín biểu này” [16].
 
10. Đến đây, tôi muốn phác một lộ trình giúp hiểu sâu thêm những nội dung đức Tin, không những vậy mà với những nội dung đó, còn là việc làm, qua đó, chúng ta quyết định hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa với tất cả tự do. Thực vậy, có sự thống nhất sâu xa giữa hành vi thể hiện đức Tin và những nội dung chúng ta tán đồng. Thánh Phaolô Tông đồ giúp đi vào bên trong thực tại này khi ngài viết: “Có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ” (Rm 10,10). Con tim mách bảo chúng ta rằng chúng ta có được đức tin vì trước hết đó là quà tặng của Thiên Chúa, và ân sủng Chúa tác động và biến đổi tận nơi sâu thẳm trong con người.
 
Câu chuyện bà Lidia là một dẫn chứng đầy sức thuyết phục về vấn đề này. Thánh Luca thuật lại, khi Thánh Phaolô đến thành Philiphê, ngày thứ Bảy ngài đi rao giảng Tin Mừng cho vài phụ nữ; trong số họ có bà Lidia và “Chúa mở lòng cho bà để bà chú ý những lời Phaolô nói” (Cv 16, 14). Một diễn đạt mang ý nghĩa quan trọng. Thánh Luca dạy, việc hiểu biết những nội dung để tin thì không đủ, nếu cõi lòng, cung thánh đích thực của con người, không được ơn Chúa mở cho, nhờ đó mới có được đôi mắt để nhìn sâu xa và hiểu ra điều được loan báo chính là Lời Chúa.
 
Tiếp đến, việc tuyên xưng ngoài miệng cho thấy đức Tin gồm cả việc làm chứng và dấn thân công khai. Người Kitô hữu không bao giờ được nghĩ rằng tin là chuyện riêng tư. Tin, là quyết định ở lại với Chúa để sống với Người. Một khi “ở lại với Chúa”, ta sẽ hiểu được tại sao ta tin. Chính vì đức Tin là một hành vi tự do, nên cũng đòi phải có trách nhiệm xã hội về những điều đã tin. Giáo hội, trong ngày lễ Hiện xuống, rõ ràng đã cho thấy chiều kích công khai ấy của việc tin tưởng và loan báo không chút sợ hãi về niềm tin của mình cho mọi người. Chính ơn Chúa Thánh Thần giúp chúng ta đảm đương sứ mạng, thêm sức để chúng ta làm chứng một cách trung thực và can đảm.
 
Tự bản thân việc tuyên xưng đức Tin là một hành vi cá nhân, đồng thời cũng mang tính cộng đoàn. Thực vậy, chính Giáo hội là chủ thể đầu tiên của đức Tin. Trong đức Tin của cộng đoàn Kitô hữu, mỗi người lãnh nhận bí tích Rửa tội, là dấu chỉ có hiệu lực về sự gia nhập đoàn dân tín hữu để được ơn cứu độ. Như Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo minh chứng: Nói “Tôi tin” là nói lên đức Tin của Giáo hội được cá nhân mỗi tín hữu tuyên xưng, cụ thể là khi chịu phép Rửa tội. Còn nói “Chúng tôi tin” là nói lên đức Tin của Giáo hội được các Giám mục tuyên xưng khi nghị hội Công đồng, hoặc khái quát hơn, được cộng đoàn tín hữu cử hành phụng vụ tuyên xưng. Tuyên xưng “Tôi tin” cũng chính là Giáo hội, Mẹ của chúng ta, đáp lại Thiên Chúa bằng đức Tin của mình và dạy chúng ta nói lên “Tôi tin” và “Chúng tôi tin” [17].
 
Chúng ta đã rõ, để chính bản thân chấp nhận đức Tin, nghĩa là hoàn toàn đồng tâm nhất trí với tất cả những gì Giáo hội đề nghị chúng ta tin, cần phải hiểu rõ những nội dung đức Tin. Sự hiểu biết về đức Tin dẫn vào toàn bộ mầu nhiệm cứu độ được Thiên Chúa mặc khải. Vì vậy việc chấp nhận đức Tin có nghĩa là, khi đã tin, chúng ta hoàn toàn tự do chấp nhận trọn vẹn mầu nhiệm đức Tin, bởi chính Chúa là Đấng bảo đảm cho mọi điều chúng ta tin. Người đã mặc khải chính mình và cho phép chúng ta được nhận biết mầu nhiệm tình yêu của Người [18].
 
Mặt khác, chúng ta không thể quên, trong bối cảnh văn hóa của chúng ta, có nhiều người, tuy không nhìn nhận mình có ơn đức Tin, nhưng vẫn chân thành tìm kiếm ý nghĩa tối hậu và sự thật cuối cùng về hiện hữu của mình và về thế giới. Sự tìm kiếm này thực là một “tiền đề” của đức Tin, vì nó thúc đẩy con người bước vào cuộc hành trình dẫn đến mầu nhiệm Thiên Chúa. Quả thật, bản thân lý trí con người vốn đòi hỏi về “điều có giá trị vững bền và trường cửu” [19]. Đòi hỏi này là một lời mời gọi mãi mãi, được ghi khắc không thể xóa nhòa trong tâm hồn con người, để bắt đầu một cuộc hành trìnhtìm gặp Đấng mà chúng ta sẽ không tìm kiếm nếu Người đã không đến gặp chúng ta [20]. Chính đức Tin mời chúng ta đến gặp Người và mở cho chúng ta bước vào cuộc gặp gỡ ấy một cách trọn vẹn.
 
11. Để hiểu biết một cách có hệ thống về nội dung đức Tin, mọi người đều có thể tìm thấy sự trợ giúp quý báu và không thể thiếu trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Đó là một trong những thành quả quan trọng nhất của Công đồng chung Vatican II. Trong Tông hiến Fidei depositum (Kho tàng đức Tin), không phải ngẫu nhiên được ký vào ngày kỷ niệm 30 năm khai mạc Công đồng chung Vatican II, Đức Chân phước Gioan Phaolô II đã viết: “Sách Giáo lý này sẽ mang lại một đóng góp quan trọng cho công cuộc canh tân toàn thể đời sống Giáo hội… Tôi nhìn nhận Sách này như một dụng cụ giá trị và hợp pháp phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội và như một chuẩn mực chắc chắn để giảng dạy đức Tin” [21].
 
Theo đó, Năm Đức Tin phải thể hiện quyết tâm tái khám phá và học hỏi nội dung cơ bản của đức Tin được trình bày trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo với sự tổng hợp có hệ thống và gắn bó hữu cơ. Quả thật, ở đây chúng ta thấy sự phong phú của giáo huấn mà Giáo hội đã đón nhận, gìn giữ và giới thiệu trong hai ngàn năm lịch sử của mình. Từ Kinh Thánh tới các Giáo phụ, từ các bậc Thầy về thần học cho đến các Thánh qua các thế kỷ, sách Giáo lý là bản ghi nhớ vĩnh viễn về biết bao cách thức Giáo hội suy ngẫm về đức Tin và tạo sự tiến triển trong giáo thuyết, nhằm giúp các tín hữu được vững vàng trong đời sống đức tin.
 
Qua cách cấu trúc, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công giáo trình bày sự phát triển đức Tin vươn đến tận những đề tài lớn của đời sống hằng ngày. Qua các trang sách, có thể thấy điều được trình bày trong sách Giáo Lý không phải là một lý thuyết, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một Người đang sống trong Giáo hội. Quả thật, sau phần Tuyên xưng đức Tin, là phần giải thích đời sống bí tích, trong đó Chúa Kitô hiện diện, hoạt động và tiếp tục xây dựng Giáo hội của Người. Nếu không có phụng vụ và các bí tích thì việc tuyên xưng đức tin sẽ không hiệu quả, vì thiếu ân sủng nâng đỡ việc làm chứng của các Kitô hữu. Cũng vậy, giáo huấn của sách Giáo Lý về đời sống luân lý đạt trọn vẹn ý nghĩa nếu được đặt trong tương quan với đức Tin, phụng vụ và cầu nguyện.
 
12. Vì thế, trong Năm Đức Tin, Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo sẽ là một công cụ đích thực nâng đỡ đức Tin, nhất là cho những người quan tâm đến việc huấn luyện các Kitô hữu, một điều rất quan trọng trong bối cảnh văn hóa ngày nay. Với mục đích ấy, tôi đã mời gọi Bộ Giáo lý đức Tin, cùng với các Cơ quan hữu trách khác của Tòa Thánh, soạn mộtBản hướng dẫn, đề ra cho Giáo hội và các tín hữu một số chỉ dẫn để sống Năm Đức Tin này một cách hiệu quả và thích hợp hơn, phục vụ cho lòng tin và công cuộc truyền giáo.
 
Quả thật, nhiều hơn so với trước đây, đức Tin hiện đang phải đối diện với một loạt vấn đề, do não trạng con người đã thay đổi, nhất là ngày nay cho rằng sự chính xác hợp lý thuộc về lĩnh vực chinh phục của khoa học và công nghệ. Tuy nhiên Giáo hội không bao giờ sợ chứng minh rằng không có bất kỳ xung đột nào giữa đức Tin và khoa học chân chính, vì cả hai đều hướng đến chân lý, mặc dù bằng những con đường khác nhau [22].
 
13. Một điều quan trọng trong Năm Đức Tin là điểm lại lịch sử đức Tin của chúng ta, được ghi dấu bằng mầu nhiệm lạ lùng về sự đan xen giữa thánh thiện và tội lỗi. Lịch sử thánh thiện cho thấy sự đóng góp lớn lao của những người, nam và nữ, cho sự tăng trưởng và phát triển cộng đoàn bằng chứng từ cuộc sống của mình, còn lịch sử tội lỗi thúc đẩy mỗi người phải thành tâm và thường xuyên hoán cải để cảm nghiệm lòng thương xót của Chúa Cha, Đấng đang đến gặp gỡ mọi người.
 
Lúc này, chúng ta hãy ngắm nhìn Chúa Giêsu Kitô “là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12, 2): nơi Người mọi khổ đau và khát vọng của tâm hồn con người được hoàn tất. Niềm vui yêu thương, câu trả lời trước bi kịch khổ ải và đớn đau, sức mạnh của tha thứ khi bị xúc phạm, và chiến thắng của sự sống trước hư không của sự chết, tất cả đều tìm được sự hoàn tất trong mầu nhiệm Nhập thể, mầu nhiệm Chúa làm người, chia sẻ sự yếu đuối của chúng ta để biến đổi nó bằng quyền năng sự phục sinh của Người. Nơi Đấng đã chịu chết và sống lại để cứu chuộc chúng ta, đã ngời sáng lên biết bao tấm gương đức Tin, in dấu trong suốt hai ngàn năm lịch sử cứu độ của chúng ta.
 
Nhờ lòng tin, Đức Maria đã đón nhận lời Thiên thần, và trong tinh thần vâng phục, Mẹ đã tin vào lời loan báo Mẹ sẽ trở thành Mẹ của Thiên Chúa (Lc 1, 38). Khi đến thăm bà Isave, Mẹ cất bài ca chúc tụng Đấng Tối Cao vì những kỳ công Người thực hiện nơi tất cả những ai đã đặt niềm tin nơi Người (x. Lc 1, 46-55). Mẹ sinh hạ người Con duy nhất trong vui mừng và lo âu, mà giờ đây Mẹ vẫn còn nguyên vẹn đồng trinh (x. Lc 2, 6-7). Tín nhiệm nơi Thánh Giuse, hôn phu của Mẹ, Mẹ mang Chúa Giêsu sang Ai Cập để cứu con khỏi cuộc bách hại của Hêrôđê (x. Mt 2, 13-15). Với đức Tin, Mẹ theo Chúa lúc Người đi rao giảng và ở với Chúa cho đến tận đồi Golgotha (x. Ga 19, 25-27). Với đức Tin, Mẹ Maria đã hưởng nếm những hoa trái của cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, và gìn giữ từng kỷ niệm trong lòng (x. Lc 2, 19.51), và Mẹ truyền lại những kỷ niệm ấy cho Nhóm Mười hai tụ họp với Mẹ trong Nhà Tiệc ly để nhận lấy Chúa Thánh Thần.
 
Nhờ đức Tin, các Tông đồ đã từ bỏ mọi sự để theo Thầy (x. Mc 10, 28). Các ngài tin vào lời Chúa loan báo Nước Chúa đã đến và được thực hiện nơi Người (x. Lc 11, 20). Các tông đồ sống đời sống kết hiệp với Chúa Giêsu, Đấng dùng lời giáo huấn mà dạy dỗ các ngài, để lại cho các ngài luật sống mới, qua đó, người ta nhận ra các ngài là môn đệ của Chúa sau khi Người chịu chết (x. Ga 13, 34-35). Nhờ đức Tin, các tông đồ đã đi khắp thế giới, theo lệnh truyền mang Tin Mừng cho mọi thụ tạo (x. Mc 16, 15) và không chút sợ hãi, các tông đồ loan báo cho mọi người niềm vui Phục sinh mà chính các vị đã là những chứng nhân trung thành.
 
Nhờ đức Tin, các môn đệ hình thành cộng đoàn đầu tiên, quy tụ quanh giáo huấn của các Tông đồ, cùng cầu nguyện, cử hành Thánh Thể, đưa những gì mình có làm của chung để giúp đỡ những anh chị em túng thiếu (x. Cv 2, 42-47).
 
Nhờ đức Tin, các vị tử đạo hiến mạng sống mình làm chứng cho chân lý Phúc Âm, chân lý đã làm cho họ được biến đổi và đạt tới ơn cao trọng nhất của tình yêu là tha thứ cho những kẻ bách hại mình.
 
Nhờ đức Tin, những người nam và nữ đã dâng hiến đời mình cho Chúa Kitô, bỏ mọi sự để sống đơn sơ theo tinh thần Phúc Âm, vâng phục, khó nghèo và khiết tịnh, là những dấu chỉ cụ thể của niềm mong chờ Chúa sắp đến. Nhờ đức Tin, đông đảo Kitô hữu đã thúc đẩy những hoạt động bênh vực công lý để cụ thể hóa Lời Chúa, Đấng đã đến loan báo cho mọi người được giải thoát khỏi áp bức và được hưởng một năm hồng ân (x. Lc 4, 18-19).
Nhờ đức Tin, qua các thế kỷ, những người nam người nữ thuộc mọi lứa tuổi được ghi tên trong Sách Sự Sống (x. Kh 7, 9; 13,
 
8) đã nói lên nét đẹp khi bước theo Chúa Giêsu tại những nơi họ được kêu gọi để làm chứng về cuộc sống làm người Kitô hữu: trong gia đình, nơi làm việc, trong xã hội, khi sống ơn đoàn sủng và thực thi các thừa tác vụ họ đã được kêu gọi.
Nhờ đức Tin, chính chúng ta cũng đang sống: qua việc nhìn nhận một cách sống động Chúa Giêsu đang hiện diện trong cuộc sống chúng ta và trong dòng lịch sử.
 
14. Năm Đức Tin cũng sẽ là cơ hội tốt để tăng cường làm chứng bằng thực thi bác ái. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hiện nay đức Tin, đức Cậy, đức Mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức Mến” (1 Cr 13,13). Với những lời còn mạnh hơn nữa nhằm thúc giục các Kitô hữu, Thánh Tông đồ Giacôbê khẳng định: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì? Cũng vậy, đức tin không có việc làm thì quả là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: ‘Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có việc làm. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không có việc làm, còn tôi, qua việc làm tôi cho bạn thấy đức tin của tôi’” (Gc 2,14-18).
 
Đức Tin không có đức Mến sẽ chẳng mang lại kết quả, còn đức Mến không có đức Tin, sẽ là một tình cảm luôn phó mặc cho ngờ vực. Đức Tin và đức Mến cần có nhau đến mức nhân đức này giúp cho nhân đức kia thể hiện chính mình.Thực tế có nhiều Kitô hữu hiến đời mình để yêu thương những người cô thế, bị gạt ra ngoài lề, bị loại trừ, coi họ là những người đầu tiên cần phải đến gặp và là những người chủ yếu phải được nâng đỡ, vì nơi họ phản chiếu gương mặt của chính Chúa Kitô. Nhờ đức Tin, chúng ta có thể nhận ra gương mặt Chúa phục sinh nơi những người đang mong được chúng ta yêu thương: “Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là các con đã làm cho chính Thầy” (Mt 25, 40): những điều Chúa nói chính là lời cảnh báo không được phép quên, và là một lời mời gọi không ngừng đáp lại tình yêu Chúa đã chăm sóc chúng ta. Chính đức Tin giúp nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu của Chúa thôi thúc chạy đến cứu giúp Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống. Được đức Tin nâng đỡ, với niềm hy vọng chúng ta hãy nhìn đến công cuộc dấn thân của chúng ta trong thế giới, trong khi chờ đợi “trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị” (2 Pr 3, 13; x. Kh 21, 1).
 
15. Vào cuối đời, Thánh Tông đồ Phaolô truyền cho môn đệ Timôthê “hãy nỗ lực đạt được đức Tin” (2 Tm 2, 22), với lòng kiên trì như lúc còn trẻ (x. 2 Tm 3, 15). Chúng ta hãy nghe lời mời gọi này được gửi đến mỗi người chúng ta, để đừng ai biếng nhác trong đời sống đức Tin. Đức Tin là bạn đồng hành suốt đời, đem lại một cái nhìn luôn mới mẻ để nhận ra những kỳ công Chúa đang thực hiện cho chúng ta. Nhằm nắm bắt những dấu chỉ thời đại hiện nay của lịch sử, đức Tin thúc đẩy mỗi người chúng ta trở thành dấu chỉ sống động về sự hiện diện của Đấng Phục sinh trong thế giới. Điều mà thế giới ngày nay đặc biệt cần đến, đó là chứng từ đáng tin cậy của những người được Lời Chúa soi sáng nơi tâm trí, có khả năng khai mở tâm trí của biết bao người đang khao khát Thiên Chúa và sự sống thật, sự sống vô cùng vô tận.
 
“Ước gì Lời Chúa hoàn tất hành trình của mình và được tôn vinh” (2 Tx 3,1): ước gì Năm Đức Tin này làm cho tương quan của chúng ta với Chúa Kitô vững chắc thêm mãi, vì chỉ trong Người chúng ta mới vững lòng nhìn về tương lai và được bảo đảm về một tình yêu đích thực và lâu bền. Những lời thánh Tông đồ Phêrô chiếu tỏa tia sáng cuối cùng về đức Tin: “Anh em sẽ được hớn hở vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, - vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người” (1 Pr 1, 6-9). Các Kitô hữu cảm nghiệm niềm vui và đau khổ. Biết bao vị thánh đã từng trải qua nỗi cô đơn! Biết bao tín hữu, kể cả ngày nay, bị thử thách vì Thiên Chúa vẫn im lặng trong khi họ muốn được nghe lời Người an ủi! Những thử thách của cuộc sống, đang khi giúp chúng ta hiểu được mầu nhiệm Thập giá và dự phần vào đau khổ của Chúa Kitô (x. Cl 1, 24), là khúc dạo đầu cho niềm vui và hy vọng mà đức Tin dẫn đến: “Khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ” (2 Cr 12, 10). Chúng ta vững vàng tin tưởng mạnh mẽ Chúa Giêsu đã chiến thắng cái ác và sự chết. Với niềm tín thác, chúng ta trao phó bản thân cho Chúa: Chúa hiện diện giữa chúng ta và chiến thắng quyền lực của ác thần (x. Lc 11, 20) và Giáo hội, cộng đoàn hữu hình của lòng Chúa thương xót, ở lại trong Chúa như dấu chỉ giao hòa rõ rệt với Chúa Cha.
 
Chúng ta hãy phó thác thời điểm ân sủng này cho Mẹ Thiên Chúa. Mẹ được tuyên xưng là “Có phúc vì đã tin” (Lc 1, 45).
 
Ban hành tại Đền thờ Thánh Phêrô, Rôma,
ngày 11 tháng Mười 2011,
năm thứ 7 sứ vụ Giáo hoàng của tôi
 
Bênêđictô XVI, Giáo hoàng

http://chungnhan.org/giaoxu/aboutus/Tu-Sac-Porta-Fidei/PORTA-FIDEI-11/

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Ý nghĩa Logo Năm Đức Tin 2012- 2013

Ý nghĩa Logo và Bài Ca Năm Đức Tin
Đức Thánh Cha Benedicto XVI đã quyết định công bố Năm Đức Tin, bắt đầu từ ngày 11-10-2012 và sẽ kết thúc vào ngày 24-11-2013, dịp Lễ Chúa Ki-tô vũ trụ, và cũng là ngày Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vaticano II và 20 năm ban hành sách giáo lý của Hội Thánh Công Giáo
Ý nghĩa Logo:
Một chiếc thuyền, hình ảnh của Giáo Hội đang chèo chống trên những làn sóng của thế gian, mà cột buồm của nó là cây thánh giá, và những cánh buồm được làm nổi lên bởi các mẫu tự IHS (có nghĩa: Đức Giêsu Đấng Cứu Độ Nhân Loại). Phía nền sau là một hình mặt trời biểu tượng Thánh Thể.
Một trang web đa ngôn ngữ (
www.annusfidei.va) cũng như các ứng dụng cho điện thoại di động sẽ cho phép theo dõi các biến cố, sự kiện của Năm Đức Tin.

*Một chiếc thuyềnhình ảnh của Giáo Hội đang chèo chống trên những làn sóng của thế gian.


*Cột buồm của chiếc thuyền là cây thánh giá, và những cánh buồm là kết hợp bởi các mẫu tự JHS(Có nghĩa: Đức Giêsu Đấng Cứu Độ Nhân Loại).


*Phía nền sau là một hình mặt trời biểu tượng Thánh Thể.

Ý Nghĩa Logo Năm Đức Tin:
Mời gọi người công giáo trên thế giới trở về với Đức Giêsu Kitô là cội nguồn đức tin, và là con đường đưa đức tin đến mức thành toàn. Đồng thời cũng xác định mục đích của việc trở về với Chúa Giêsu là:
- Để hiểu rõ Ngài hơn;
- Để sống trung thực với lời tuyên xưng đức tin;
- Để sống trọn vẹn hồng ân đức tin mà Ngài đã thương ban;
- Để canh tân đổi mới đời sống, làm cho hồng ân đức tin được tỏa sáng trong xã hội, được chia sẻ cho mọi người.

-------------------

Ý Nghĩa của biểu tượng (logo) Năm Đức Tin:

Dấu hiệu này được biểu tượng qua một hình vuông, với con thuyền tượng trưng cho Giáo Hội, được trình bày như đang lướt trên những ngọn sóng. Dấu hiệu chính của con tàu là hình thánh giá được vẽ trên những cánh buồm trong bằng dấu hiệu rõ ràng tượng trưng cho Chúa Kitô (HIS). Đàng sau những cánh buồm là một mặt trời, hoà hợp với biểu tượng, dấu chỉ của Thánh Thể.


I- Logo tiếng Việt

II- LOGO TIẾNG ANH


III- Các Logo khác
Bấm vào hình nhỏ để xem hình lớn
     
   
   

 http://www.thanhlinh.net/node/33717

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Những lời hứa Chúa Giêsu Dành Cho Những Ai Suy Niệm 24 Giờ Khổ Nạn

TÓM TẮT NHỮNG LỜI HỨA DIỄM PHÚC
Chúa Giêsu Dành Cho Những Ai
Suy Niệm 24 Giờ Khổ Nạn



1) Nếu người suy niệm những Giờ này là một tội nhân, thì họ sẽ được hoán cải.

2) Nếu là kẻ bất toàn, thì sẽ nên hoàn thiện.

3) Nếu là người bị cám dỗ, thì sẽ được chiến thắng.

4) Nếu là tâm hồn đau khổ, thì sẽ tìm thấy sức mạnh, thần dược và an ủi trong những Giờ này.

5) Nếu là linh hồn yếu đuối tầm thường, thì sẽ gặp được một tấm gương thiêng liêng để không ngừng tự soi hầu sửa mình và nên giống Chúa Giêsu, mô phạm của chúng.

6) Giả như thị trấn hoặc thành phố nào cũng có ít là một vài linh hồn thực hiện việc sùng kính này, thì phép Công Thẳng  được nguôi ngoai, đoán phạt của Thiên Chúa sẽ ngưng lại phần nào, và có thể nói là ngưng hẳn trong thời buổi ảm đạm đầy thống khổ và đẫm máu này.

7) Người nào thường xuyên suy niệm cuộc Khổ Nạn của Cha sẽ tạo nên một nguồn mạch trong tâm hồn họ. Người ấy càng suy niệm, thì nguồn mạch kia càng trào tràn… nên nguồn mạch cuộc Khổ Nạn của Cha được tạo thành nơi tâm hồn ấy sẽ mưu ích cho đương sự, đem lại vinh hiển cho Cha và lợi ích cho các thụ tạo.

8) Cha không coi việc suy niệm những Giờ ấy là việc của họ, nhưng là việc của Cha; và Cha sẽ lấy công trạng mà Cha đã lập được khi chịu đau thương trong cuộc Khổ Nạn mà ban cho họ.Trên thiên đàng, Cha sẽ cho các linh hồn ấy ở trước nhan Cha, Cha sẽ phóng cho họ những tên lửa tình yêu và hoan lạc bằng với số lần họ đã suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn của Cha; và họ cũng sẽ phóng vào Cha những tên lửa tình yêu. Điều này làm cho tất cả các phúc nhân ngây ngất.

9) Với những bản kinh có ân xá, người ta được hưởng một ơn gì đó; trong khi 24 Giờ Khổ Nạn là lời cầu nguyện, là việc đền bồi, và là trọn vẹn Tình Yêu của Cha, xuất phát từ thẳm cung Trái Tim Cha. Có lẽ con quên rằng Cha đã nhiều lần kết hợp với con để suy niệm những Giờ ấy, và Cha đã đổi đoán phạt thành ra ân sủng cho khắp trần gian phải không? Quả thật, sự thỏa nguyện của Cha lớn lao đến độ, thay vì ban một ân xá, Cha sẽ vốc dư đầy Tình Yêu, tràn trề báu tàng cao quí, để tặng ban cho các linh hồn.

10) “Này ái nữ (Luisa Piccaretta) của Cha, để thưởng công cho con vì đã viết 24 Giờ Khổ Nạn, thì cứ mỗi từ con viể ra, Cha sẽ thưởng cho con một linh hồn, một nụ hôn.”

11) Cứ Mỗi từ họ đọc, Cha cũng sẽ thưởng cho một linh hồn  nếu như họ cùng đọc với Cha và theo Ý Cha. 24 Giờ Khổ Nạn sẽ sinh hiệu quả nhiều ít tùy vào mức độ linh hồn kết hợp với Cha.

12) Dù cho mỗi tỉnh, chỉ có một người suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn đi nữa, thì Cha cũng hài lòng! Cha cảm thấy mình đang sống ở tỉnh ấy, và phép Công Thẳng của Cha, hiện đang bị khinh mạn dể duôi, cũng được nguôi ngoai phần nào.”
13) Cha sung sướng chừng nào thấy khi con suy đi niệm lại  Giờ Khổ Nạn của Cha, thì con sẽ cảm thấy hạnh phúc…Vì vậy, có thể nói con chính là người đầu tiên mang lại niềm vui sướng lớn lao và đặc biệt này cho Cha, từng giờ, con làm tan hòa trong con Sự Sống và những đau khổ Cha đã chịu. Và từng giờ, Cha bị thúc ép phải ban lương thực ấy cho con; và Cha dùng lương thực ấy với con; Cha cùng thực hiện với con việc con đang làm. Con nên biết rằng Cha sẽ ban tràn ngập ánh sáng và ân sủng mới cho con; kể cả sau khi con lìa đời, cứ mỗi lần các linh hồn trên trần gian suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn của Cha, thì trên thiên quốc, Cha sẽ ban ánh sáng và vinh quang mới cho con.”

14) Giờ đây, hễ ai suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn của Cha, thì nhờ tiếp xúc với họ, Cha cảm thấy đinh sắt được nhổ ra, gai nhọn bị gẫy sạch, thương tích được xoa dịu và phỉ nhổ được lau khô. Cha cảm thấy điều ác người ta làm cho Cha biến thành điều thiện. Việc tiếp xúc với họ không gây hại, nhưng tạo phúc cho Cha, và Cha càng tựa vào họ luôn mãi.
15) Khi suy niệm những Giờ này, linh hồn nhận lấy các tâm tình của Cha và biến thành của họ; họ nhận những đền bồi, những lời cầu, những khát khao, những cảm tình, kể cả những tâm tư sâu thẳm nhất của Cha và làm nên của họ. Và khi đã vươn lên giữa Trời và đất, trong tư cách một người đồng công cứu chuộc, họ thực hiện nhiệm vụ của chính Cha, cùng với Cha thưa lên lời, ‘Ecce ego, mitte’ (này con đây, xin hãy sai con). Con muốn đền tạ Cha thay cho mọi người, đền đáp Cha thay cho mọi người và khẩn xin ơn lành cho mọi người.”

16) Các thiên thần có một sứ vụ đặc biệt: khi linh hồn nào suy niệm Đời Sống, cuộc Khổ Nạn và những lời cầu của Cha, thì các ngài lại vây quanh linh hồn ấy, tiếp nhận lời nói, câu kinh, nước mắt, hy tế và sự cảm thương mà linh hồn ấy dành cho Cha. Các ngài liên kết các việc ấy với các việc của Cha rồi dâng tiến trước Thánh Nhan Cha để Cha lại được vinh quang trong chính đời sống của Cha. Các thiên thần vui sướng đến độ kính cẩn đón đợi để được nghe những lời của linh hồn ấy và nguyện cầu với linh hồn ấy. Bởi đó, khi suy niệm những giờ này, linh hồn phải chú tâm và cung kính, vì có các thiên thần đang bay lượn chung quanh môi miệng của họ để lặp lại những những lời linh hồn ấy thốt ra.” Những Giờ này là những hớp nước ngọt ngào các linh hồn dâng lên để đền bồi vô vàn đắng đót mà các thụ tạo đã gây ra cho Cha; nhưng sự ngọt ngào này chẳng là gì nếu sánh với nông nỗi đắng cay mà Cha phải chịu. Bởi vậy, con hãy truyền bá, hãy truyền bá hơn nữa!”

17) 24 Giờ Khổ Nạn là trật tự của vũ trụ, làm cho thiên giới và địa giới hòa hợp với nhau, và giữ Cha khỏi lìa bỏ thế gian. Cha thông ban cho mọi người Bửu Huyết, những thương tích, Tình Yêu và tất cả những gì Cha đã thực hiện để cứu họ. Khi các linh hồn suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn, Cha cảm thấy Bửu Huyết của Cha, những thương tích của Cha, những ước nguyện cứu độ các linh hồn của Cha lại sống lại. Và khi Cha cảm thấy cuộc sống của Cha sống lại, thì hỏi thử, với những Giờ này, có gì tốt lành mà các thụ tạo không thể đạt được.

18) Con không biết rằng cứ mỗi từ, mỗi ý, mỗi tâm tình, mỗi việc đền tạ và tưởng niệm những khổ đau của Cha, thì có rất nhiều tương thông như một dòng điện truyền qua giữa Cha và linh hồn; và do đó, linh hồn sẽ được tô điểm bằng vẻ đẹp muôn hình vạn trạng hay sao? Các linh hồn suy niệm 24Giờ Khổ Nạn sẽ được Cha đón nhận như một người con của cuộc Khổ Nạn, được Cha mặc cho Bửu Huyết và trang điểm bằng những thương tích của Cha. Bông hoa ấy, đã mọc lên nơi tâm hồn con.


Link : http://vagsc.com/GioSuyNiem/loihua.html


24 GIỜ KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ Mặc khải qua Luisa Piccarretta


24 Giờ Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô


DẪN NHẬP


TRÍCH THƯ CỦA BÀ LUISA PICCARRETTA

Đây, cuối cùng con xin trình lên cha bản tài liệu 24 Giờ Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô, tất cả xin vì vinh quang Chúa. Con cũng kèm thêm một trang nhỏ, ghi lại những hiệu quả và những lời hứa tuyệt đẹp Chúa Giêsu dành cho những ai suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn này.

“Con tin rằng, nếu người suy niệm những Giờ này là một tội nhân, thì họ sẽ được hoán cải; nếu là kẻ bất toàn, thì sẽ nên hoàn thiện; nếu là người bị cám dỗ, thì sẽ được chiến thắng; nếu là tâm hồn đau khổ, thì sẽ tìm thấy sức mạnh, thần dược và an ủi trong những Giờ này; nếu là linh hồn yếu đuối tầm thường, thì sẽ gặp được một tấm gương thiêng liêng để không ngừng tự soi hầu sửa mình và nên giống Chúa Giêsu, mô phạm của chúng ta.

“Chúa Giêsu thỏa nguyện với việc suy niệm những Giờ này đến độ Người ước mong phải có ít là một bản để các linh hồn cầu nguyện cho các thành phố hoặc thị trấn; bởi vì trong việc đền tạ này, Chúa Giêsu nhận ra tiếng nói và những lời cầu của Người được lặp lại, đó là những lời Người đã dâng lên Chúa Cha suốt hai mươi bốn giờ trong cuộc Khổ Nạn đau thương. Giả như thị trấn hoặc thành phố nào cũng có ít là một vài linh hồn thực hiện việc sùng kính này, thì con thấy phép Công Thẳng được nguôi ngoai, đoán phạt của Thiên Chúa sẽ ngưng lại phần nào, và có thể nói là ngưng hẳn trong thời buổi ảm đạm đầy thống khổ và đẫm máu này.
“Vì thế, con xin thưa với cha, mục đích của tài liệu 24 Giờ Khổ Nạn không phải là tường thuật tỉ mỉ về cuộc Thương Khó, bởi đã có nhiều sách vở bàn về đề tài thánh thiện này, và có lẽ cũng chẳng cần thêm một tài liệu nào nữa; nhưng mục đích ở đây là ĐỀN TẠ, liên kết cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu với những xúc phạm muôn hình nghìn trạng, và cùng với Chúa, thực hiện việc ĐỀN TẠ tương xứng, đền bồi những gì mọi thụ tạo mắc nợ với Người. Trong một số Giờ, tức là một số đoạn, chúng ta ngợi khen; trong một số khác, chúng ta thương cảm; trong một số khác nữa, chúng ta ca tụng; có chỗ, chúng ta an ủi Chúa Giêsu đau khổ; có chỗ, chúng ta đền tạ Người; và chỗ khác, chúng ta khẩn nài, cầu nguyện và xin ơn.”



VỀ VIỆC SUY NIỆM 24 GIỜ KHỔ NẠN

A: Quyển 11
Ngày 15 tháng 6 năm 1916


… Thế là tôi lưu lại suốt đêm với Chúa Giêsu trong Thánh Ý của Người. Sau đó, tôi nghiệm thấy Đức Nữ Vương Hiền Mẫu ở cạnh tôi, và Mẹ phán, “Hỡi ái nữ của Mẹ, con hãy cầu nguyện.”

Tôi thưa, “Mẹ ơi, xin Mẹ cùng cầu nguyện với con vì con không biết cầu nguyện một mình.”

Và Mẹ đáp, “Lời cầu nguyện thần thế nhất đối với Trái Tim của Con Mẹ và làm cho Người được an ủi nhất là thụ tạo hãy mặc lấy tất cả những gì chính Người đã làm và đã chịu, như một ân ban dành trọn vẹn cho họ. Vì vậy, hỡi ái nữ của Mẹ, con hãy đội mão gai Chúa Giêsu lên đầu con. Hãy để nước mắt Người lã chã nơi mắt con. Hãy thấm nỗi đắng cay của Người cho đầy lưỡi con. Hãy lấy Máu Thánh mà tưới gội linh hồn con. Hãy dùng những thương tích của Người mà điểm trang cho con. Hãy lấy những chiếc đinh của Người mà đóng vào tay chân con, và, như một Đức Kitô đệ thứ, con hãy đến trình diện trước Thánh Nhan Uy Linh của Người. Cảnh tượng ấy sẽ khiến Chúa xúc động đến độ không thể khước từ bất cứ điều gì với linh hồn đã điểm trang bằng chính những trang phục của Người. Nhưng thương ôi, các thụ tạo hầu như không biết tận dụng những tặng ân Con Mẹ đã ban cho họ!

Đây là lời cầu nguyện của Mẹ trên địa cầu và cũng là lời nguyện cầu của Mẹ trên thiên quốc.”

B: Quyển 11

Ngày 10 tháng 4 năm 1913

Sáng nay, Chúa Giêsu khả ái của tôi lại đến, Người ấp ủ trái tim tôi và phán, “Ái nữ của Cha, người nào thường xuyên suy niệm cuộc Khổ Nạn của Cha sẽ tạo nên một nguồn mạch trong tâm hồn họ. Người ấy càng suy niệm, thì nguồn mạch kia càng trào tràn. Và bởi vì những dòng nước phát sinh ấy là thứ nước dùng chung cho mọi người; nên nguồn mạch cuộc Khổ Nạn của Cha được tạo thành nơi tâm hồn ấy sẽ mưu ích cho đương sự, đem lại vinh hiển cho Cha và lợi ích cho các thụ tạo.”

Và tôi thưa, “Lạy Chúa Nhân Lành, xin cho con biết Chúa sẽ ban ơn gì cho những người suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn mà Chúa đã dạy con?”

Chúa đáp, “Này ái nữ của Cha, Cha không coi việc suy niệm những Giờ ấy là việc của họ, nhưng là việc của Cha; và Cha sẽ lấy công trạng mà Cha đã lập được khi chịu đau thương trong cuộc Khổ Nạn mà ban cho họ, như vậy, Cha sẽ làm cho việc ấy mang lại những hiệu quả tương tự, tùy tình trạng của các linh hồn ấy. Cha sẽ thực hiện điều này trên trần gian, và Cha không thể ban hơn được nữa. Trên thiên đàng, Cha sẽ cho các linh hồn ấy ở trước nhan Cha, Cha sẽ phóng cho họ những tên lửa tình yêu và hoan lạc bằng với số lần họ đã suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn của Cha; và họ cũng sẽ phóng vào Cha những tên lửa tình yêu. Điều này làm cho tất cả các phúc nhân ngây ngất thỏa thuê!”

C: Quyển 11

Ngày 6 tháng 9 năm 1913


Tôi đang miên man nghĩ về 24 Giờ Khổ Nạn và sự thể việc sùng kính này chưa được ban ân xá, thành ra những người suy niệm không được hưởng gì cả, trong khi nhiều bản kinh khác lại đầy dẫy những ân xá. Đang khi tôi suy nghĩ như vậy, Chúa Giêsu khả ái, vô cùng dịu hiền, phán bảo tôi, “Này ái nữ của Cha, với những bản kinh có ân xá, người ta được hưởng một ơn gì đó; trong khi 24 Giờ Khổ Nạn là lời cầu nguyện, là việc đền bồi, và là trọn vẹn Tình Yêu của Cha, xuất phát từ thẳm cung Trái Tim Cha. Có lẽ con quên rằng Cha đã nhiều lần kết hợp với con để suy niệm những Giờ ấy, và Cha đã đổi đoán phạt thành ra ân sủng cho khắp trần gian phải không? Quả thật, sự thỏa nguyện của Cha lớn lao đến độ, thay vì ban một ân xá, Cha sẽ vốc dư đầy Tình Yêu, tràn trề báu tàng cao quí, để tặng ban cho các linh hồn. Và như vậy, nơi nào có những việc làm vì tình yêu tinh ròng, nơi ấy Tình Yêu Cha sẽ trào đổ; việc các thụ tạo hỗ trợ và mở lối cho Tình Yêu của Đấng Tạo Hóa không phải là việc tầm thường.”

D: Quyển 11

Tháng 10 năm 1914


Tôi đang ghi chép 24 Giờ Khổ Nạn và thầm nhủ trong lòng, “Viết ra 24 Giờ Khổ Nạn hồng phúc này đòi biết bao hy sinh, nhất là trong khi viết, nội tâm còn thực hiện những tác động với Chúa Giêsu nữa! Không biết Người sẽ thưởng công gì cho mình đây?”

Và Chúa Giêsu đã cho tôi nghe lời êm ái của Người, “Này ái nữ của Cha, để thưởng công cho con vì đã viết 24 Giờ Khổ Nạn, thì cứ mỗi từ con viết ra, Cha sẽ thưởng cho con một linh hồn, một nụ hôn.”

Tôi thưa lại, “Ôi Tình Yêu của con, đó là phần riêng cho con; thế còn những người khác cũng làm việc này thì Chúa sẽ thưởng gì cho họ?”

Chúa đáp, “Cứ mỗi từ họ đọc, Cha cũng sẽ thưởng cho một linh hồn nếu như họ cùng đọc với Cha và theo Ý Cha. 24 Giờ Khổ Nạn sẽ sinh hiệu quả nhiều ít tùy vào mức độ linh hồn kết hợp với Cha. Khi làm việc ấy theo Ý Cha, thụ tạo sẽ ẩn mình trong Ý Cha, và nếu như ở đó có Thánh Ý Cha hoạt động, thì Cha sẽ hoàn thành tất cả những điều thiện hảo như Cha muốn, cho dù chỉ có vỏn vẹn một từ. Cứ mỗi lần họ làm việc sùng kính này, thì Cha sẽ thực hiện điều ấy.”

Một lần khác, tôi than khóc với Chúa Giêsu vì 24 Giờ Khổ Nạn được viết ra với biết bao hy sinh khó nhọc, thế nhưng chẳng mấy người chịu đọc.

Và Chúa đáp, “Này ái nữ của Cha, con đừng khóc lóc. Cho dù chỉ được một người mà thôi, con cũng nên vui mừng mới phải. Giả sử chỉ có một linh hồn được cứu độ, chẳng lẽ Cha lại không cam chịu tất cả cuộc Khổ Nạn hay sao? Phần con cũng vậy. Không bao giờ được phép bỏ qua điều thiện chỉ vì có một vài người tận dụng được điều ấy. Khốn cho kẻ nào không biết tận dụng. Cũng như cuộc Khổ Nạn giúp Nhân Tính của Cha sắm được công trạng có khả năng cứu độ mọi người, thế nhưng đâu phải ai ai cũng được cứu độ; bởi Ý của Cha là cứu độ mọi người; và Cha đã sắm công trạng theo ý Cha, chứ không phải theo mức độ lợi ích mà các thụ tạo sẽ tận dụng được, cho nên con cũng hãy làm như vậy. Khi thi ân cho mọi người, ý muốn của con kết hợp với Ý của Cha đến đâu, thì con sẽ được thưởng công đến đó. Khốn cho kẻ nào không tận dụng khi có thể.

Những Giờ này rất có giá trị vì tái diễn những gì Cha thực hiện trong cuộc sống trần thế và duy trì trong Nhiệm Tích Cực Thánh của Cha. Khi nghe 24 Giờ Khổ Nạn, Cha nhận ra tiếng nói và những lời cầu của chính Cha. Cha nhìn thấy nơi linh hồn ấy ý muốn của Cha, ước mong điều thiện cho mọi người và muốn đền bồi cho tất cả, và Cha vào sống trong linh hồn ấy để có thể làm những việc họ làm. Ôi, dù cho mỗi tỉnh thành chỉ có một người suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn đi nữa, thì Cha cũng hài lòng! Cha cảm thấy mình đang sống ở tỉnh thành ấy, và phép Công Thẳng của Cha, hiện đang bị khinh mạn dể duôi, cũng được nguôi ngoai phần nào.”

Tôi xin kể thêm, một hôm, khi tôi đang suy niệm Giờ Mẹ Thiên Đàng mai táng Chúa Giêsu, tôi theo sát Mẹ để được ở bên cạnh và cảm thông với Mẹ trong cảnh ly biệt sầu thảm. Tôi không thường xuyên suy niệm Giờ này, chỉ thỉnh thoảng mà thôi. Bấy giờ, tôi phân vân không biết có nên làm hay không. Và Chúa Giêsu đáng mến đã phán bảo như thể nài van: “Ái nữ của Cha, Cha không muốn con bỏ qua việc này. Con hãy vì yêu Cha mà làm Giờ này để tôn vinh Mẹ Cha. Con hãy biết rằng mỗi lần con thực hiện việc này thì Mẹ Cha cảm thấy như thể đích thân Mẹ còn trên trần gian, và sống lại cuộc đời của Mẹ. Do đó, Mẹ tiếp nhận vinh hiển và tình yêu mà Mẹ đã hiến dâng cho Cha khi còn tại thế. Cha cũng cảm thấy Mẹ như đang sống trên trần gian, với tình ân cần từ mẫu, lòng mến yêu và tất cả vinh quang Mẹ đã dành cho Cha. Vì thế, Cha cũng sẽ coi con như một người Mẹ.”

Bởi đó, khi được Chúa ấp ủ, tôi nghe Người thầm thĩ, “Mẹ của Con, mẹ của Con.” Và Chúa đã tỏ cho tôi biết những gì Hiền Mẫu Maria đã thực hiện và đã chịu trong Giờ này. Tôi theo sát Mẹ, và nhờ sự phù trợ của ân sủng, kể từ đó, tôi chẳng bao giờ bỏ qua Giờ này nữa.

E: Quyển 11

Ngày 4 tháng 11 năm 1914


Tôi đang suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn, và Chúa Giêsu, rất hài lòng, phán bảo tôi, “Này ái nữ của Cha, giả như con biết Cha sung sướng chừng nào thấy khi con suy đi niệm lại 24 Giờ Khổ Nạn của Cha, thì con sẽ cảm thấy hạnh phúc. Quả thật, các thánh cũng đã suy niệm cuộc Khổ Nạn của Cha và đã hiểu biết Cha đau khổ thế nào. Các ngài đã rơi lệ đau đớn như nát tan vì thương cảm những thống khổ của Cha, nhưng các ngài không biết làm theo cách liên lỉ và lặp đi lặp lại, cũng không theo trình tự như thế này.

Vì vậy, có thể nói con chính là người đầu tiên mang lại niềm vui sướng lớn lao và đặc biệt này cho Cha, từng giờ, con làm tan hòa trong con Sự Sống và những đau khổ Cha đã chịu. Và từng giờ, Cha bị thúc ép phải ban lương thực ấy cho con; và Cha dùng lương thực ấy với con; Cha cùng thực hiện với con việc con đang làm. Con nên biết rằng Cha sẽ ban tràn ngập ánh sáng và ân sủng mới cho con; kể cả sau khi con lìa đời, cứ mỗi lần các linh hồn trên trần gian suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn của Cha, thì trên thiên quốc, Cha sẽ ban ánh sáng và vinh quang mới cho con.”

F: Quyển 11

Ngày 6 tháng 11 năm 1914


Tôi tiếp tục suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn như thường lệ, và Chúa Giêsu khả ái phán với tôi, “Này ái nữ của Cha, trần gian vẫn không ngừng khơi lại cuộc Khổ Nạn của Cha. Cha bao bọc trong ngoài mọi thụ tạo bằng ưu phẩm Vô Cùng của Cha, và vì sự tiếp xúc ấy, Cha đành chịu đinh sắt, gai nhọn, đòn vọt, khinh mạn, phỉ nhổ và tất cả những gì như Cha đã chịu trong cuộc Khổ Nạn khi xưa, và còn hơn thế nữa. Giờ đây, hễ ai suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn của Cha, thì nhờ tiếp xúc với họ, Cha cảm thấy đinh sắt được nhổ ra, gai nhọn bị gẫy sạch, thương tích được xoa dịu và phỉ nhổ được lau khô. Cha cảm thấy điều ác người ta làm cho Cha biến thành điều thiện. Việc tiếp xúc với họ không gây hại, nhưng tạo phúc cho Cha, và Cha càng tựa vào họ luôn mãi.”

Thế rồi, sau khi trở lại, Chúa Giêsu khả ái cùng làm 24 Giờ Khổ Nạn với tôi. Ngài phán, “Này ái nữ của Cha, con hãy biết, khi suy niệm những Giờ này, linh hồn nhận lấy các tâm tình của Cha và biến thành của họ; họ nhận những đền bồi, những lời cầu, những khát khao, những cảm tình, kể cả những tâm tư sâu thẳm nhất của Cha và làm nên của họ. Và khi đã vươn lên giữa Trời và đất, trong tư cách một người đồng công cứu chuộc, họ thực hiện nhiệm vụ của chính Cha, cùng với Cha thưa lên lời, ‘Ecce ego, mitte’ (này con đây, xin hãy sai con). Con muốn đền tạ Cha thay cho mọi người, đền đáp Cha thay cho mọi người và khẩn xin ơn lành cho mọi người.”

G: Quyển 11

Ngày 13 tháng 10 năm 1916

Tôi đang suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn thì Chúa Giêsu phán dạy, “Này ái nữ của Cha, trong cuộc đời dương thế của Cha, hàng ngàn hàng vạn thiên thần hằng chầu chực bên Nhân Tính của Cha và thu nhận tất cả những gì Cha đã thực hiện: những công việc, những lời nói, kể cả những ánh mắt, những khổ đau, những giọt Máu, tóm lại là tất cả những gì của Cha. Đó là những thiên thần được đặc cử làm Bản Mệnh của Cha để tôn vinh và vâng theo mọi chỉ thị của Cha. Các ngài từ thiên đàng lên xuống thường xuyên để đem những việc làm của Cha mà dâng cho Chúa Cha.

“Giờ đây, các thiên thần ấy lại có một sứ vụ đặc biệt: khi linh hồn nào suy niệm Đời Sống, cuộc Khổ Nạn và những lời cầu của Cha, thì các ngài lại vây quanh linh hồn ấy, tiếp nhận lời nói, câu kinh, nước mắt, hy tế và sự cảm thương mà linh hồn ấy dành cho Cha. Các ngài liên kết các việc ấy với các việc của Cha rồi dâng tiến trước Thánh Nhan Cha để Cha lại được vinh quang trong chính đời sống của Cha. Các thiên thần vui sướng đến độ kính cẩn đón đợi để được nghe những lời của linh hồn ấy và nguyện cầu với linh hồn ấy. Bởi đó, khi suy niệm những Giờ này, linh hồn phải chú tâm và cung kính, vì có các thiên thần đang bay lượn chung quanh môi miệng của họ để lặp lại những lời linh hồn ấy thốt ra.”

Sau đó, Chúa còn nói tiếp, “Những Giờ này là những hớp nước ngọt ngào các linh hồn dâng lên để đền bồi vô vàn đắng đót mà các thụ tạo đã gây ra cho Cha; nhưng sự ngọt ngào này chẳng là gì nếu sánh với nông nỗi đắng cay mà Cha phải chịu. Bởi vậy, con hãy truyền bá, hãy truyền bá hơn nữa!”

H: Quyển 11

Ngày 11 tháng 12 năm 1916


Tôi đau đớn vì thiếu vắng Chúa Giêsu dịu hiền; và giữa lúc tôi quằn quại thế này, giả như Chúa có đến, chắc tôi càng đớn đau hơn nữa khi thấy Người còn đau khổ hơn tôi. Chúa vẫn chưa khuây khỏa bởi các thụ tạo cứ bức bách Người, để rồi tự chuốc lấy đoán phạt. Nhưng trong khi đoán phạt, Chúa vẫn thương cho số phận nhân loại; Người ẩn mình trong trái tim như không muốn nhìn thấy những gì nhân loại phải chịu. Dường như nhân loại không thể qua được, huống nữa thời buổi tang thương này hình như chỉ mới khởi đầu mà thôi.

Bởi vậy, khi thấy tôi buồn bã cho số phận gian truân và buồn thảm của tôi vì thường xuyên vắng Người, Chúa Giêsu dịu hiền đã đến, choàng tay quanh cổ tôi và phán bảo, “Này ái nữ của Cha, những khổ đau của Cha đã ứ đầy. Con đừng làm tăng thêm bằng nỗi phiền sầu như thế. Cha không cầu mong ở con điều đó. Ngược lại, Cha muốn con hãy nhận lấy những khổ đau, những lời nguyện và tất cả những việc của Cha mà làm thành của con, để Cha có thể tìm được bản thân thứ hai của Cha ở nơi con. Lúc này, Cha khát khao được thỏa nguyện, và chỉ những ai biến Cha thành của họ mới có thể dâng cho Cha niềm thỏa nguyện ấy. Đó cũng là những gì Chúa Cha đã gặp được ở Cha: vinh quang, sự toại nguyện, tình yêu, niềm thỏa mãn trọn vẹn và hoàn hảo, mưu ích cho mọi người. Cha muốn gặp được nơi các linh hồn này, cũng như nhiều linh hồn khác, những Giêsu thứ hai, những người qui hướng tất cả về cho Cha. CON PHẢI LẶP LẠI NHỮNG Ý NGUYỆN ẤY TRONG TỪNG GIỜ KHỔ NẠN, trong từng hành động, trong tất cả những gì con làm; và, nếu như Cha không tìm được những thỏa nguyện của mình, thì thế giới này kể như đã tận số! Những đoán phạt sẽ trút xuống như thác đổ. Ôi, ái nữ của Cha! Ôi, ái nữ của Cha!”

I: Quyển 12

Ngày 16 tháng 5 năm 1917


… Bấy giờ, tôi xuất thần và thấy mình ở giữa rất đông các linh hồn. Hình như đó là các thánh nhân và những linh hồn luyện ngục. Các ngài trò chuyện với tôi và gọi tên một người mới qua đời chưa bao lâu mà tôi quen biết. Các ngài cho biết, “Có thể nói ông ấy cảm thấy hạnh phúc vì không thấy một linh hồn nào mang dấu hiệu 24 Giờ Khổ Nạn mà không được những Giờ ấy đồng hành và trợ giúp để được ở một nơi an toàn khi vào luyện ngục. Cũng không một linh hồn nào lên thiên đàng mà không được 24 Giờ Khổ Nạn đồng hành. Những Giờ ấy làm sương mát từ thiên đàng liên tục mưa xuống trần gian, luyện ngục và ngay cả trên thiên đàng nữa.

Khi nghe như vậy, tôi tự nhủ: Chắc hẳn Chúa Giêsu yêu dấu của tôi đã giữ lời hứa, theo đó, cứ mỗi từ trong 24 Giờ Khổ Nạn, Người sẽ cứu một linh hồn – thành ra không một linh hồn nào biết tận dụng những Giờ này mà không được cứu độ.

Sau đó, tôi tỉnh lại; và đến khi được gặp Chúa Giêsu dịu hiền, tôi hỏi Người điều đó có thực hay không. Chúa đáp, “24 Giờ Khổ Nạn là trật tự của vũ trụ, làm cho thiên giới và địa giới hòa hợp với nhau, và giữ Cha khỏi lìa bỏ thế gian. Cha thông ban cho mọi người Bửu Huyết, những thương tích, Tình Yêu và tất cả những gì Cha đã thực hiện để cứu họ. Khi các linh hồn suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn, Cha cảm thấy Bửu Huyết của Cha, những thương tích của Cha, những ước nguyện cứu độ các linh hồn của Cha lại sống lại. Và khi Cha cảm thấy cuộc sống của Cha sống lại, thì hỏi thử, với những Giờ này, có gì tốt lành mà các thụ tạo không thể đạt được? Tại sao con hoài nghi điều đó? Việc ấy không còn là của con, nhưng là của Cha. Con chỉ là một dụng cụ yếu hèn, hạn hẹp mà thôi.”


J: Quyển 12

Ngày 12 tháng 7 năm 1918


Trong tâm trạng lo lắng và áy náy, tôi cầu nguyện cho một linh hồn sắp sửa từ trần; Chúa Giêsu khả ái đến, phán bảo tôi, “Này ái nữ của Cha, tại sao con lo lắng? Con không biết rằng cứ mỗi từ, mỗi ý, mỗi tâm tình, mỗi việc đền tạ và tưởng niệm những khổ đau của Cha, thì có rất nhiều tương thông như một dòng điện truyền qua giữa Cha và linh hồn; và do đó, linh hồn sẽ được tô điểm bằng vẻ đẹp muôn hình nghìn trạng hay sao? Các linh hồn suy niệm 24 Giờ Khổ Nạn sẽ được Cha đón nhận như một người con của cuộc Khổ Nạn, được Cha mặc cho Bửu Huyết và trang điểm bằng những thương tích của Cha. Bông hoa ấy đã mọc lên nơi tâm hồn con, Cha chúc lành và nhận nó làm của riêng Cha, như một bông hoa được sủng ái.”

Trong khi Chúa đang phán những lời ấy, một bông hoa từ trái tim tôi trổ ra rồi bay vút về với Chúa Giêsu.

TÔI TỚ CHÚA LUISA PICCARRETA - TÁC GỈA 24 GIỜ SUY NIỆM CUỘC KHỔ NẠN CHÚA GIÊSU KITÔ


TÔI TỚ CHÚA LUISA PICCARRETA
LÀ TÁC GỈA 24 GIỜ SUY NIỆM
CUỘC KHỔ NẠN CHÚA GIÊSU KITÔ


Hiện nay, Bộ Phong Thánh đang cứu xét hồ sơ xin phong chân phước cho một vị Nữ Tôi Tớ Chúa thuộc tổng Giáo phận Trani,tỉnh Bari, nam Italia, là chị Luisa Piccarreta, qua đời năm 1947, hưởng thọ 82 tuổị. Suốt 70 năm trời, chị Luisa nằm liệt giường nhưng luôn sống theo Thánh Ý Chúa và vẫn có thể làm nghề thêu thùa để tự lực mưu sinh, và nuôi nấng em gái cũng như những người trợ giúp. Trong 70 năm, cứ mỗi sáng, thân thể của Luisa cứng đơ như xác chết, và cần có một linh mục làm dấu Thánh Giá chúc lành để trở lại trạng thái bình thường.

THÂN THẾ

Luisa Piccarreta sinh ngày 23-4-1865, là người thứ tư trong một gia đình có 5 người con gái, và thân phụ Nicola làm tá điền trong một nông trại lớn của gia đình Mastrorillị. Tại đó, Luisa đã trải qua những năm tháng dài của thời thơ ấu và niên thiếụ. Trước xóm nhà ấy ngày nay vẫn còn một cây dâu tằm to lớn, với một hốc lớn trong thân cây, trong đó cô bé Luisa thường ẩn nấp để cầu nguyện, xa tránh những cặp mắt tò mò. Chính tại nơi cô tịch ấy, Luisa đã khởi sự cuộc phiêu lưu thần linh, hướng dẫn chị trên những nẻo đường đau khổ và thánh thiện.


Năm lên 9 tuổi, Luisa được rước Chúa Giêsu Thánh Thể lần đầu và chịu phép Thêm Sức, và từ lúc đó,Luisa thường cầu nguyện lâu giờ trước Mình Thánh Chúạ. Năm 11 tuổi, Luisa muốn ghi tên gia nhập Hội Con Ðức Mẹ - rất thịnh hành bấy giờ - thuộc giáo xứ thánh Giusẹ. Năm 18 tuổi, Luisa gia nhập dòng Ba Ða Minh với tên dòng là Mađalenạ. Chị là một trong những người đầu tiên ghi tên gia nhập Dòng Ba do Cha sở cổ võ Lòng sùng kính của Luisa đối với Mẹ Thiên Chúa biến thành một linh đạo sâu xa, báo trước điều mà một ngày kia chị sẽ viết về Ðức Me.

Tiếng Chúa Giêsu dẫn đưa Luisa tới chỗ từ bỏ chính mình khỏi mọi sự và mọi ngườị. Khoảng năm 18 tuổi, từ bao lơn nhà, ở đường Nazario Sauro, Luisa được thị kiến Chúa Giêsu đang vất vả dưới sức nặng của thánh giá, Ngài hướng nhìn về Luisa và thốt lên những lời này: "Hỡi linh hồn, hãy giúp Cha!". Từ lúc đó, trong tâm hồn Luisa bừng cháy lòng khao khát khôn lường, mong được chịu đau khổ vì Chúa Giêsu và vì phần rỗi các linh hồn. Và thế là những đau khổ thể lý khởi sự, thêm vào những đau khổ tinh thần, đi tới mức độ anh hùng.Chị Luisa qua đời ngày 4 tháng 3 năm 1947, thọ 81 tuổi sau 15 ngày chịu bệnh sưng phổi nặng. Ðó là bệnh duy nhất được xác nhận trong cuộc đời chi.
Vào ngày lễ Chúa Kitô Vua, 20-11-1994, tại nhà thờ chính ở Corato, thuộc tổng giáo phận Trani, tỉnh Bari, nam Italia, trước sự hiện diện của rất đông dân chúng địa phương và từ nơi khác kéo tới, Ðức Cha Carmelo Cassati, TGM sở tại, đãchính thức mở án phong chân phước cho Nữ Tôi Tớ Chúa Luisa Piccarretạ. (Theo Nguồn Mục Vụ Switzerland, tác giả Phúc Nhạc)


Tôi tớ Chúa Luisa Piccarretta,
Ái nữ thơ bé của Thánh Ý Chúa

Chuyển ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC

THE 24 HOURS OF THE PASSION
OF OUR LORD JESUS CHRIST

by Luisa Piccarretta, Little Daughter of the Divine Will
Phê chuẩn ấn của nguyên bản Ý ngữ (lần đầu, 20-11-1915)

Nihil Obstat: Franscesco Sorrentino Revisore eccl

Imprimatur:+ A. Can. Laviano V.G.

In Ấn & Xuất Bản - 2013
Hội từ thiện Người Samarit Nhân Lành Việt Mỹ

VAGSC
PO Box 18209
Anaheim Hills CA 92817

(714) 542 3989
www.vagsc@yahoo.com

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

Giải thích sự khủng khiếp của Hỏa Ngục cho những người mù lòa trước sự tồn tại của Satan

LỜI CHÚA TRÍCH TRONG SÁCH SỰ THẬT
 Theo Ngôn Sứ Cuối Thời MARIA DIVINE MERCY

Giải thích sự khủng khiếp của Hỏa Ngục cho những người mù lòa trước sự tồn tại của Satan
Thứ bảy ngày 24 tháng 9 năm 2011 lúc 10:15 tối

Con gái yêu dấu của Cha, tại sao con người vẫn tiếp tục phủ nhận sự tồn tại của Hỏa ngục?

Nhiều người trong số các con của Cha, tự nhận mình là hiện đại trong dáng vẻ bề ngoài của họ, công khai phủ nhận sự tồn tại của Hoả Ngục khi họ tuyên xưng niềm tin của mình vào Thiên Chúa Cha Hằng Hữu. Họ đánh lừa con cái Cha khi họ sử dụng các lý lẽ rằng Thiên Chúa bao giờ cũng nhân từ. Bằng cách thuyết phục các con của Cha rằng tất cả sẽ được vào Thiên Đàng, họ vô tình phải chịu trách nhiệm cho những người đi theo giáo lý sai lầm của họ.

Satan thực sự hiện hữu và do đó, Hoả Ngục cũng tồn tại. Hoả Ngục là nơi Satan cầm giữ linh hồn của những ai tỏ lòng trung thành với hắn trên trái đất. Đây là những linh hồn đã đẩy sang một bên tất cả những suy nghĩ về Thiên Chúa và thúc đẩy việc chấp nhận các hành động xấu xa tội lỗi trên thế giới. Trong một số trường hợp người ta thậm chí còn có thể bán linh hồn của mình cho Satan để đổi lấy một cuộc sống giàu có, nổi tiếng và quyền lực.

Nhiều người trong ngành công nghiệp âm nhạc đã làm điều này trong suốt những năm qua. Người ta thường ít để ý đến cách thức mà người ta tỏ lòng trung thành của mình, rất thường xuyên, qua các buổi khánh thành của các tổ chức, được thực hiện với các lễ nghi huyền bí.

Mặt khác có những người chỉ sống theo những gì mà họ cho là một cuộc sống vui vẻ, vô tư khi mà họ liên tục khao khát việc tự thỏa mãn. Họ chỉ là một số những linh hồn, khi đến trước cửa Hoả Ngục thì kinh hãi và lắc đầu hoảng hốt không thể tin được số phận đang chờ đợi họ. Họ không thể chấp nhận rằng điều kinh hãi mà họ phải đối mặt này là do chính họ tạo ra. Quyền tự do được ban cho họ trên trái đất đã bị lạm dụng nhằm có được tất cả mọi thứ mà những thứ ấy lại xúc phạm đến Thiên Chúa.

Các con của Cha ơi, xin các con hãy giải thích sự khủng khiếp của Hoả Ngục cho những người mù lòa trước sự hiện hữu của Satan. Cho dù họ cười cợt và buông lời sỉ nhục các con đi nữa. Vì đó là nhiệm vụ của các con để cảnh báo họ về số phận khủng khiếp đang chờ đợi bất kỳ linh hồn đáng thương nào phải kết thúc ở đó.

Những người vô thần đang nằm trên giường chờ chết, họ tin rằng sự đau khổ của họ sẽ kết thúc vào hơi thở cuối cùng thì giờ đây hãy nghe Cha nói đây. Đối với những ai trong các con phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa trên trái đất này, mặc dù Sự Thật đã được tỏ bày cho các con trong suốt cuộc đời của các con, thì nỗi đau khổ của các con trong ngọn lửa Hỏa Ngục mới chỉ là khởi đầu cho sự đau khổ muôn đời. Hỡi những linh hồn đáng thương của Cha, những người phạm tội trọng bằng ý chí tự do của chính mình là các con từ chối Cha. Thay vào đó các con đã chọn Satan. Hắn đang chờ đợi các con sau khi chết. Các con sẽ không tìm thấy Cha vì Cha không ở đó. Vì lúc đó sẽ là quá trễ để tỏ cho các con thấy Lòng Thương Xót của Cha.

Tất cả các con hãy cầu nguyện, cầu nguyện để chúng ta có thể cùng nhau cứu lấy những linh hồn này. Satan không được phép cướp mất linh hồn của họ. Hãy giúp Cha cứu họ trong khi họ vẫn còn sống trên trái đất.
Chúa Giêsu yêu dấu của các con

Nguồn : http://www.thongdiep.info/default.aspx?id=I000202M092011



Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

Thời của hòa bình và vinh quang hầu như tới rồi (17/09/2011)


Thời của hòa bình và vinh quang hầu như tới rồi (17/09/2011)

Thứ bảy ngày 17 tháng 9 năm 2011 lúc 6:50 tối
Con gái yêu dấu của Cha, cuối cùng con cũng nhận ra rằng khi con cảm thấy bị từ chối thì đây chỉ đơn giản là một sự phản ảnh về nỗi đau đớn của riêng Cha. Khi con đang ở trong sự hiệp nhất với Cha, như con đang làm, thì điều này sẽ trở thành một phần của cuộc sống của con kể từ bây giờ. Khi người ta từ chối các thông điệp mà con công bố thì họ đang từ chối Lời Chí Thánh của Cha. Khi họ thách thức các thông điệp và soi mói lỗi lầm trong đó là họ đang chỉ trích Cha. Khi họ khinh bỉ con thì họ đang nhạo báng Cha. Khi họ cười cợt những thông điệp này là họ đang đóng đinh Cha.
Những gì con đang cảm thấy chỉ là một phần nhỏ trong sự đau khổ của Cha khi Cha buồn bã nhìn vào sự mù lòa của con người trước sự thật về sự tồn tại của Chúa Cha Hằng Hữu. Nỗi đau đớn và thống khổ mà Cha cảm nhận mãnh liệt nhất là khi Cha phải chứng kiến tội lỗi của con người, bao gồm cả tội lỗi của các tín hữu. Sự dày vò này thật khó mà chấm dứt được nhưng nó sẽ được giảm bớt nhờ vào sự đau khổ của các linh hồn hy sinh. Điều đó cũng được xoa dịu bởi tình yêu mà những người theo Cha tỏ cho Cha thấy thông qua sự sùng kính của họ đối với Cha.
Con gái của Cha, trong khi Cha cần sự đau khổ để cứu những linh hồn bất hạnh đáng thương khác thì chẳng còn điều gì mang đến cho Cha niềm vui. Cha thấy thật đau đớn khi phải chứng kiến việc đó nhưng lại cảm nhận được sự an ủi từ đó. Con gái của Cha à, còn quá nhiều điều con phải học mà những điều đó rất khó hiểu đối với con. Nhân loại không thể nào hiểu được những đường lối trong Vương quốc của Thiên Chúa. Một ngày nào đó họ sẽ hiểu.
Các con của Cha hãy biết điều này, rằng những thời điểm khó khăn mà con người đã phải chịu đựng trong nhiều thế kỷ đã đến hồi kết thúc. Đây là tin vui cho nhân loại thể hiện tình yêu đối với tha nhân của mình và, cũng vậy đối với những người yêu mến Cha. Cuối cùng cũng sẽ đến hồi kết thúc, sự đau khổ Cha phải chịu đựng là vì Cha yêu thương tất cả các con. Tình yêu này thật mạnh mẽ, bao giờ cũng mềm mỏng và sẽ là nguyên nhân cho sự cứu rỗi cuối cùng của các con.
Con gái của Cha giờ đây hãy ra đi và chấp nhận đau khổ với sự hiểu biết hơn trong tâm hồn con. Hãy vui mừng vì thời đại của hòa bình và vinh quang hầu như tới rồi.
Người bạn thân thiết và là Đấng Cứu Độ yêu dấu của các con
Chúa Giêsu Kitô
Vua của nhân loại
Chuyển dịch từ nguồn “thewarningsecondcoming.com”

http://thongdiep.info/default.aspx?id=T000829M092011